Hội nhập trong nước

2008-02-07
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
  • In trang này
  • Chia sẻ
  • Ý kiến của Bạn
  • Email

Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

Một vấn đề cho Việt Nam là yêu cầu hội nhập vào luồng trao đổi kinh tế toàn cầu mà một biểu hiện là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Tuy nhiên, Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ nói về một yêu cầu tiên quyết, đó là hội nhập ngay trong nội bộ quốc gia, qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tiếp tục loạt bài tổng kết về kinh tế Việt Nam trong năm 2005 vừa kết thúc, và để nêu ra những vấn đề đặt ra cho giai đoạn trước mặt.

InvestmentWTO150.jpg
Hạ tầng cơ sở yếu kém của Việt Nam không đáp ứng kịp cho nhu cầu hiện đại hóa và công nghiệp hóa nền kinh tế. AFP PHOTO

Yêu cầu hội nhập

Nói đến yêu cầu này, người ta đều nghĩ đến việc hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu, trong đó có mục tiêu gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO mà năm qua Việt Nam đã bị hụt mất. Xin ông nêu nhận xét sơ khởi về vấn đề này trước khi ta đi sâu vào chi tiết cụ thể?

Đáp: Chẳng những Việt Nam không kịp gia nhập WTO mà tuần qua, nhật báo Wall Street Journal và sáng viện nghiên cứu The Heritage Foundation tại Hoa Kỳ đã công bố báo cáo hàng năm của họ về Chỉ số Tự do Kinh tế. Họ xếp các nước vào bốn loại, 1) có tự do, 2) cơ bản là có tự do, 3) cơ bản là thiếu tự do, và 4) bị đàn áp. Trên danh mục 157 quốc gia được khảo sát, Việt Nam đứng hàng thứ 142, thuộc loại thấp nhất trong các nước bị liệt vào danh sách “cơ bản là thiếu tự do”. So với năm ngoái thì còn tụt năm hạng, tức là đi ngược với trào lưu của thế giới.

Hỏi: Kết quả khảo sát ấy gây ngạc nhiên vì giờ đây mọi người trong nước đều đồng ý với thế giới rằng tự do kinh tế là một điều kiện tất yếu của thịnh vượng và năm qua, kinh tế Việt Nam có tăng trưởng khả quan vậy mà vì sao mức độ tự do lại sút giảm?

Đáp: Năm qua, mức độ tự do đo lường ở chính sách ngoại thương của Việt Nam có tăng tiến được chút đỉnh như lại giảm trong nhiều lãnh vực khác như sự can thiệp của chính quyền, chính sách tiền tệ, đầu tư nước ngoài, tài chính và ngân hàng, quyền tư hữu của tư nhân, luật lệ cho tư doanh, v.v… Nếu phân tích cho kỹ, ta thấy ra một nguyên nhân chính của tình trạng tụt hậu ấy là hệ thống quản lý chính sách và lãnh đạo.

Vì vậy mà trước khi nói đến việc hội nhập với thế giới bên ngoài, tôi nghĩ rằng Việt Nam cần giải quyết một ách tắc là hội nhập nội bộ. Nôm na là guồng máy công quyền phải tự hội nhập vào mục tiêu chung của cả quốc gia, là điều thực ra vẫn chưa có tại Việt Nam.

Vai trò của nhà cầm quyền

Hỏi: Đây là một vấn đề nghe ra hơi trái ngược vì người ta thường cho rằng thứ nhất, chính quyền Việt Nam ý thức được yêu cầu hội nhập, thứ hai, chính quyền ấy có quá nhiều quyền hạn. Khi muốn hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu thì chính quyền chỉ việc ra lệnh, các cấp đều phải chấp hành nhằm đạt mục tiêu chung, chứ vì sao ông lại cho rằng chưa có sự hội nhập của guồng máy công quyền vào mục tiêu ấy?

Đáp: Tôi thiển nghĩ rằng đây là một sự hiểu lầm lớn nhất trong rất nhiều hiểu lầm của cả dư luận lẫn giới lãnh đạo Việt Nam. Ngườt ta cứ tưởng rằng dưới sự lãnh đạo và cầm quyền thực tế của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng cứ ra nghị quyết, rồi chính quyền căn cứ trên đó mà làm luật hoặc ra nghị định là mọi cấp ở dưới đều thống nhất chấp hành. Sự thật lại không như vậy.

Thứ nhất, quyền lực của đảng từ trung ương lại không được cấp đảng ở địa phương thống nhất chấp hành. Người ta cứ tưởng đấy là biểu hiện của nguyên tắc phân quyền hay tản quyền. Thức ra, đấy là biểu hiện của nguyên tắc “phép vua thua lệ làng” về chính sách quốc gia.

InternetYouth200b.jpg

Thứ hai, về trình độ, chính quyền trung ương, từ Quốc hội, Thủ tướng đến các Bộ cứ nghĩ là chỉ cần ban hành luật lệ là mọi nơi đều áp dụng đồng bộ. Thực ra, chuyện ấy không có vì mỗi nơi lại tùy tiện suy diễn một cách và cùng một đạo luật, người ta có những kết quả bất nhất.

Hỏi: Vì sao lại có hiện tượng trái ngược đó, là quyền tự do của người dân bị thu hẹp trong khi đảng viên hay viên chức nhà nước lại có quyền tự do suy diễn hay áp dụng mỗi nơi một khác?

Đáp: Tôi cho rằng đấy là thuộc tính của đảng Cộng sản, với thứ nhất, quyền hạn rất lớn dành cho các địa phương và thứ hai, trung ương không nắm vững tình hình thực tế ở mọi nơi. Lý do thứ hai là viên chức nhà nước thường cũng là đảng viên và nhờ hệ thống đảng nên không nhất thiết chấp hành chỉ thị ở trên mà thượng cấp cũng khó áp dụng kỷ luật. Sự chòng chéo về quyền lực chính trị và trách nhiệm quản lý là một lý do chính. Đã vậy, và đây là lý do thứ ba, người dân và báo chí chưa có đầy đủ quyền hạn để lên tiếng hoặc phê bình những bất nhất tùy tiện trong bộ máy công quyền. Hậu quả chung là cùng một chính sách kinh tế tài chính hay luật lệ, mỗi nơi lại đạt một kết quả khác. Nói chung, đó là vấn đề về khả năng cai trị, thuật ngữ của giới kinh tế gọi là “governance quality.”

Chính sách kinh tế & Khả năng cai trị

Hỏi: Đấy là những nguyên tắc hay giải thích chung, chứ ông có thể đơn cử vài thí dụ cụ thể về hiện tượng ấy không?

Đáp: Suốt năm qua, chúng ta đã nghe thấy nhiều cuộc thảo luận trong Quốc hội về Luật doanh nghiệp chung, hoặc Luật đầu tư chung. Đấy là một nỗ lực hội nhập chính sách và áp dụng vào một mục tiêu thống nhất. Xuyên qua các văn bản và tranh luận, ta thấy ngay một hiện tượng nổi bật là mỗi nơi suy diễn một cách với hậu quả là thay vì giản lược hóa tiến trình quyết định bằng luật lệ thống nhất, có nơi lại lập ra nhiều cửa ải mới, tạo ra cơ hội tham nhũng mới. Một thí dụ là việc lập ra ‘dịch vụ một cửa’, về nguyên tắc là để đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh, khai thuế và có con dấu hành nghề. Thực tế thì một số tỉnh, như Lào Kay có dồn được ba việc vào một khâu, nhưng Dak Lak lại không được như vậy.

Một thí dụ rộng lớn hơn đã được nêu ra trong báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới là dù luật lệ được ban hành trên cả nước thống nhất, mỗi nơi lại đạt kết quả một khác. Nói chung, các tỉnh trong Nam, từ thành phố Đà Nẵng đến tỉnh Long An hay Bình Dương đã áp dụng luật lệ thông thoáng và minh bạch hơn nên thu hút đầu tư nhiều hơn, cấp giấy phép kinh doanh và giải thích luật lệ nhanh hơn. Hậu quả là tính bình quân trên dân số từng tỉnh thì Bình Dương chẳng hạn tiếp nhận đầu tư nước ngoài cao hơn 13 lần tỉnh Hà Tây là nơi mà tư doanh không được chính quyền khuyến khích nâng đỡ như ở nhiều nơi khác. Ngay ở trong Nam, thành phố Đà Nẵng cũng hơn hẳn thành phố Huế.

Hỏi: Những địa phương ông nêu làm thí dụ đều có vị trí địa dư hay tiềm năng khác nhau thì đâu có thể chứng minh là nguyên do nằm ở những yếu tố khác?

Đáp: Tình hình nói trên là do cuộc khảo sát của Ban Quản lý Kinh tế Trung ương và Cơ quan Viện trợ Đức cùng thực hiện tại bảy tỉnh. Tiêu chí đặt ra cho các tỉnh là phải cấp giấy phép trong thời hạn 15 ngày thì 67% các doanh nghiệp tại Hà Tây cho biết họ nhận giấy phép sau thời hạn. Vấn đề vì vậy không nằm ở tài nguyên hay vị trí địa dư. Nói chung, ta có nhiều cuộc khảo sát của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á cho thấy có sự cao thấp trong khả năng phục vụ của các tỉnh.

Hỏi: Vậy thì nguyên nhân là ở chỗ khả năng chuyên môn cao thấp khác nhau của từng địa phương hay còn vì lý do gì khác?

Đáp: Trình độ chuyên môn có thể là một vấn đề khiến mức độ cạnh tranh trong nội bộ mỗi nơi lại mỗi khác để cải thiện môi trường sinh hoạt cho dân chúng. Nhưng ngoài lý do khả năng thì còn phải kể đến nhiều lý do khác.

Thứ nhất là mức độ minh bạch trong chính sách luật lệ hay về tiến trình quyết định của bộ máy địa phương cũng có khác nên người dân không được bảo vệ đồng đều. Có minh bạch thì trách nhiệm mới được phân giải rõ ràng.

Một lý do thứ ba tôi thiển nghĩ là còn quan trọng hơn đó là ý thức của các giới chức địa phương về vai trò của tư doanh, hoặc rộng lớn hơn, về quyền dân. Những nơi mà bộ máy công quyền có vẻ thông thoáng hữu hiệu nhất cũng là những nơi mà viên chức nhà nước biết nâng đỡ tư doanh thay vì nghi ngờ tư doanh hoặc còn giữ thái độ quan liêu cửa quyền.

Giải pháp để hội nhập

Hỏi: Ông đã nêu vấn đề thì có lẽ trong đầu ông cũng có giải pháp nào đó chăng? Vậy giải pháp đó là gì? Cụ thể hơn là nếu chính quyền Việt Nam thực tâm muốn cải cách để hội nhập guồng máy hành chính của mình vào mục tiêu chung thì họ có thể làm những gì?

Đáp: Các tổ chức quốc tế có nêu ra nhiều giải pháp cho loại vấn đề ấy. Một việc mà Việt Nam đã nói đến và đã được viện trợ để tiến hành từ hơn 10 năm nay là cải cách hành chính. Đây là một trách nhiệm của Ban Tổ chức Chính quyền Trung ương. Việc cải cách này có được tiến hành nhưng vẫn quá chậm và gần như năm nào cũng được khuyến cáo.

Ngay trước mắt, vấn đề đặt ra là làm sao cho chính các viên chức công quyền muốn thi hành việc đó. Đây không phải là chuyện đơn giản vì nhiều người thấy rằng việc chấp hành và suy diễn luật lệ lại thu hẹp quyền hạn và khả năng của họ, kể cả khả năng tham nhũng.

Hỏi: Nếu như thế thì làm sao các cấp chính quyền có thể được thúc đẩy để thi hành một việc mà họ cho là bất lợi cho bản thân?

Đáp: Minh bạch hóa luật lệ và tiến trình quyết định để mọi người đều biết rõ trách nhiệm và quyền hạn là một việc cần có thể đáp ứng yêu cầu đó. Rộng lớn hơn, người ta cần công khai hóa mọi chuyện, thí dụ như thứ bậc cao thấp của từng địa phương, từng ngành trong việc yểm trợ dân chúng và chấp hành luật lệ hầu người dân biết rõ và có quyền lên tiếng về tình trạng ấy. Tức là mọi người đều phải có quyền tự do thông tin và phát biểu. Tự do thông tin, tự do báo chí và tự do tiếp cận mọi nguồn thông tin là một bước cần thiết của việc minh bạch hóa.

Hỏi: Tuy nhiên, khách quan mà nói thì cũng có những địa phương yếu kém nghèo nàn và cần được chính quyền trợ giúp qua ngân sách quốc gia. Ông có nghĩ rằng đấy cũng là một giải pháp thực tế hay không?

Đáp: Trong cải cách hành chính, ta có một khâu quan trọng chính là thủ tục ngân sách, chuẩn chi và thanh toán để san xẻ tài nguyên từ các tỉnh giàu có đến các tỉnh nghèo. Tuy nhiên, ta phải thực tế nhìn ra phản tác dụng nếu các tỉnh nghèo được tài trợ nhiều hơn hầu cải tiến hạ tầng vật chất và xã hội cho địa phương mình. Phản tác dụng là vì càng được trợ giúp, người ta càng chậm thay đổi. Cho nên, dư luận người dân và báo chí phải được biết về tình hình ấy hầu tạo ra áp lực thay đổi.

Kết luận ở đây là không thể chỉ trông chờ vào thiện chí cải cách của chính quyền mà phải cho người dân có quyền phê phán để giới hữu trách phải chịu trách nhiệm trước quốc dân.

Và nếu nhớ đến bàn tay vô hình của đảng trong các quyết định về chính sách và nhân sự, thì việc minh bạch hóa tiến trình chính trị trong đảng cũng là một yêu cầu thực tế, là điều nhiều đảng viên chờ đợi từ Đại hội đảng khóa X trong năm nay./.

Ý kiến (0)
  • In trang này
  • Chia sẻ
  • Email