Nhận định của ký giả tự do Sài Gòn về vụ bắt giam 2 nhà báo chính thống

2008-05-21

Thông tin, bài viết trong nước về hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải từ đầu tuần gần như hoàn toàn mất biệt. Cảm nghĩ bên lề của một nhà báo “ vỉa hè” phản ảnh quan ngại của dư luận đối với thế kẹt của báo chí Việt Nam trong vòng quản lý của nhà nước.

AFP PHOTO

Thông tin về hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải hoàn toàn mất biệt trên báo chí trong những ngày qua.

Trong mấy ngày nay, báo chí trong nước không thấy đề cập tới trường hợp 2 nhà báo vừa bị bắt Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến vì bị giới cầm quyền VN nghiêm cấm. Câu hỏi được nêu lên là liệu hành động bịt miệng báo chí như vậy có thực sự ngăn chận được vấn đề này nói riêng, và tự do báo chí nói chung, hay không ? Thanh Quang tìm hiểu diễn biến sự việc qua cuộc trao đổi với nhà báo tự do Văn Lang tại Sàigòn:
 
Nhà báo Văn Lang: Theo đánh giá cũng như quan sát cá nhân của tôi thấy thì chẳng hạn như trong hệ thống báo chí nhà nước do các cơ quan chủ quản, tức là mỗi tờ báo ở Việt Nam đều có một cơ quan chủ quản. Cơ quan chủ quản đó họ có quyền đối với tờ báo đó, đưa tin hay không đưa tin. Nhưng tình hình ngày nay là có những báo chí ở trên mạng, tức là không thuộc hệ thống kiểm soát của nhà nước, có những blogger mà những blogger đó thì đôi khi cũng là những người làm báo-họ có thông tin và họ đưa lên.

Nhưng khi anh tấn công tham nhũng thì tham nhũng họ cũng có những phản đòn. Vấn đề này, theo tôi nghĩ, là  tranh chấp về luật pháp, nếu như có một toà án công bằng để xét xử.
        nhà báo Văn Lang


Theo tôi biết là ở bên ngoài người ta cũng hay sử dụng những nguồn thông tin trên blog. Theo cái nhìn của nói chung là báo Việt Nam, thì báo chí là con dao hai lưỡi ở Việt Nam. Về mặt nguyên tắc tờ báo không có quyền kết tội nhân vật A, nhân vật B là tham nhũng, bởi vì thật ra anh không phải thuộc về cơ quan hình sự hay là cơ quan toà án.

Thành ra những chứng cớ điều tra đó có một giá trị về mặt công luận, cho nên vấn đề hai nhà báo này theo cái nhìn của xã hội Việt Nam, không phải cái nhìn của cá nhân tôi, thì họ cũng dựa trên điều đó. Thế có nghĩa là bây giờ như thế nào thì phải do cơ quan điều tra kết luận, chứ còn cái vấn đề chẳng hạn như khi mình tấn công vào tham nhũng thì đôi khi không phải lúc nào cũng chính xác, nhưng khi anh tấn công tham nhũng thì tham nhũng họ cũng có những phản đòn. Vấn đề này, theo tôi nghĩ, là  tranh chấp về luật pháp, nếu như có một toà án công bằng để xét xử.
 
Thanh Quang: Trước khi trở lại vai trò của toà án như anh vừa mới đề cập, anh nhận định gì về dư luận trong nước nói chung và cộng đồng mạng và blogger nói riêng phản ứng ra sao về hành động giới hạn tự do báo chí, tự do ngôn luận của giới cầm quyền?
 

Người ta cũng bắt đầu nghi ngờ vấn đề công lý, tại vì một nhà báo mà đấu tranh chống tham nhũng rồi bây giờ lại bị bắt vì tội cũng gần như là tham nhũng thì cái đó tự nhiên dư luận đứng ở cái khoảng phân vân.

Nhà báo Văn Lang: Cái mảng nào của nhà nước thì họ khoá được, còn cái mảng không của nhà nước thì các blogger tự do vẫn làm công việc đó. Thì xưa nay vẫn như vậy. Tôi thuộc giới gọi là văn nghệ vỉa hè, lang thang ngoài vỉa hè.  Ban đầu dư luận của anh em văn nghệ vỉa hè ủng hộ hai nhà báo này vì nghĩ rằng họ là những người đấu tranh chống tham nhũng, v.v. nhưng mà sau đó thì có những thông tin từ những bài báo viết ngược lại, tạo ra một cái tâm trạng là hoài nghi.

Hoài nghi hai điều: thứ nhứt là không biết những nhà báo này có thực sự là những nhà báo chống tham nhũng hay là những nhà báo này cũng là phục vụ cho một quyền lợi chính trị của một nhóm nào đó. Thứ hai, người ta cũng bắt đầu nghi ngờ vấn đề công lý, tại vì một nhà báo mà đấu tranh chống tham nhũng rồi bây giờ lại bị bắt vì tội cũng gần như là tham nhũng thì cái đó tự nhiên dư luận đứng ở cái khoảng phân vân.

Mà cái thông tin về vấn đề này thì đáng lý phải do một cơ quan điều tra, do một cơ quan toà án gì đó phát ngôn, như vậy người ta mới có thể tránh được sự hoài nghi. Còn thực ra bây giờ mình thấy hôm nay tờ báo này đăng như vậy, ngày mai tờ báo kia đăng khác, thì cái đó nó tạo cái tâm trạng như vậy. Do đó, nói chung là nhiều người cảm thấy là không có được cái niềm tin lắm.
 
Thanh Quang: Có một điểm là có nhiều blog cảnh báo về việc luật sư của hai nhà báo nay hiện vẫn chưa tiếp nhận được hồ sơ vụ án. Anh có thông tin hay nhận xét gì về việc này không?
 
Nhà báo Văn Lang: Thật ra thì cái điều này ở các nước mà luật pháp đã rõ ràng và hoàn chỉnh thì cái chuyện ngay từ phút đầu tiên họ bị bắt thì luật sư đã làm việc ngay với cơ quan điều tra rồi. Ở Việt Nam thì những năm gần đây họ mới ra điều luật đó, nhưng mà có rất là nhiều trường hợp không được quyền lợi của người bị tình nghi hoặc là bị điều tra đó không được đảm bảo. Một số luật sư cũng than phiền về vấn đề đó, và nhiều luật sư  tích cực thì họ dựa trên cái điều luật đó để tranh đấu cho người mà họ bào chữa, đòi hỏi sự tiếp xúc. Điều này theo tôi thấy ở Việt Nam cũng còn phải tranh đấu nhiều. Mặc dù luật thì nó có đấy nhưng mà việc thực thi thì nó vẫn chưa thành nề nếp, do đó nhiều người vẫn còn bị ở trong cái tình trạng không được tiếp xúc với lại luật sư.
 
Thanh Quang: Giới lãnh đạo C14 nghe nói cũng không tiếp xúc với Hội Nhà Báo liên quan tới vụ này. Vấn đề này ra sao?
 
Nhà báo Văn Lang: Cái đó thì ở Việt Nam thật ra một công dân vỉa hè như tôi cũng không thể nắm rõ cách làm việc, cách vận hành của nhà nước này. Thực ra đôi khi có những việc gì đó vì quyền lợi thì họ gọi là hợp tác với nhau rất là tốt, nhưng mà vì những lý do riêng hoặc quyền lợi không có ăn khớp với nhau thì nó lại có những cái riêng lẻ. Theo tôi điều đó không tốt, bởi vì nếu anh muốn tạo một xã hội công bằng - dân chủ - văn mình thì anh phải là hợp tác trên những nguyên tắc xã hội chứ không thể vì những cái lợi ích cục bộ riêng lẻ.

Riêng chuyện này dư luận thấy là không hợp lý. Và chính cái chỗ không hợp lý đó tạo cho một cái công luận không được tốt về tự do và công lý ở Việt Nam.

Chẳng hạn như trong giới văn nghệ vỉa hè có bình luận là Thanh Niên và Tuổi Trẻ là hai tờ báo cùng ở Sài Gòn nhưng mà thường thường là không hợp tác với nhau. Nhưng sau vụ hai nhà báo của họ cùng bị dính líu tới vụ này thì hai tờ báo cũng phải lên tiếng. Như vậy họ tự nhiên lại dựa vào nhau để tạo thành cái tạm gọi là áp lực. Đó, cái ứng xử ở Việt Nam nó là như vậy.
 
Thanh Quang: Theo quy định của luật báo chí hiện hành ở Việt Nam thì cho dẫu có đưa tin thiếu chính xác đi nữa, hai nhà báo này cũng với cơ quan chủ quản của họ là báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, chỉ cần đính chánh và xin lỗi  hay là phải bồi thường nếu bị thua kiện, thế nhưng họ đã bị gán tội hình sự. Trong khi đó hàng trăm phiên toà đã qua cho thấy là tiến trình xét xử bị giới cầm quyền khống chế thì như vậy công luận có thể lo ngại ra sao cho trường hợp của hai nhà báo này nói riêng, và cho tự do báo chí trong nước nói chung?
 
Nhà báo Văn Lang: Theo tôi thấy, hai tờ báo kia đã lên tiếng, hai cơ quan chủ quản họ phải lên tiếng, nói rằng không phải chỉ riêng hai tờ báo này mà có rất là nhiều tờ báo tham gia cũng như có rất nhiều người viết bài mà tại sao những người kia lại không bị?

Trở lại vấn đề tiền lệ là một phóng viên trước kia của báo Tuổi Trẻ cũng đưa tin về vấn đề giá thuốc của Bộ Y Tế, sau đó cũng bị ghép vào tội tiết lộ bí mật quốc gia. Theo tin lúc đó cuộc họp báo đó được tổ chức công khai và có tất cả rất nhiều báo tới đưa tin nhưng mà riêng cô phóng viên của báo Tuổi Trẻ lại bị đưa ra toà về cái tội đó. Nhưng vì cái áp lực của báo chí cũng như của công luận nói chung cuối cùng chuyện đó cũng buộc lòng phải cho qua.

Cách hành sử như vậy tạo ra những tiền lệ xấu, nghĩa là mọi công dân cũng như mọi tờ báo phải bình đẳng trước pháp luật, nghĩa là pháp luật áp dụng cho tất cả mọi người chứ không phải riêng cho cá nhân này hoặc cho một tờ báo nào. Riêng chuyện này dư luận thấy là không hợp lý. Và chính cái chỗ không hợp lý đó tạo cho một cái công luận không được tốt về tự do và công lý ở Việt Nam.
 





 
Radio Free Asia
2025 M Street NW, Suite 300
Washington DC 20036, USA
202-530-4900
vietweb@rfa.org