Lê Dân, phóng viên đài RFA
Trong những ngày qua, đã có nhiều cuộc hội thảo, báo chí phỏng vấn, thông tin về các biện pháp mới của nhà nước, xoay quanh vấn đề làm sao kiềm chế được giá cả, tức giảm thiểu nạn lạm phát. Vì sao và làm thế nào để chu kỳ lạm phát không xảy ra, hoặc xảy ra nhẹ hơn hồi năm 2004 ?

Lê Dân trao đổi cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa để tìm hiểu thêm. Mời quý thính giả theo dõi.
Lê Dân: Thưa ông, dư luận đang bức xúc về vấn đề giá cả hàng tiêu dùng, và cả nguyên liệu sản xuất đều tăng cao trong những ngày gần đây. Thêm vào đó là giá trị tiền tệ, tính từ năm 2004 đến 2006, lạm phát đã tăng tổng cộng 24,5% theo sự ước lượng của giới tài chính trong nước.
Nếu đơn giản mà xem đó là sự mất giá của đồng tiền thì đồng bạc Việt Nam đã giảm đến 1 phần 4 giá trị chỉ trong vòng ba năm qua. Thưa ông, vì sao nên nỗi ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ là mình có thể nhìn thấy ngay chuyện mỗi người chú ý đến một góc của vấn đề. Tổng hợp lại thì do cung và cầu không quân bình. Cụ thể là hàng thì ít, mà tiền thì nhiều.
Hàng ít thí dụ do thiên tai như cúm gia cầm, mà hệ thống phân phối lại kém. Hàng ít mà giá lại tăng cao, do giá nhập khẩu, nên có sức đẩy từ đầu vào, tức là mình nhập khẩu cả nạn lạm phát từ thế giới bên ngoài vào. Đó là các vấn đề mà đáng lẽ ra mình phải thấy ngay từ đầu năm rồi .
Nhập khẩu nạn lạm phát
Khi mình nhập khẩu những mặt hàng cần thiết đó, nhất là trong tình trạng hiện nay của kinh tế Việt Nam, tức nhập khẩu nguyên vật liệu, xong lấy công thợ của mình chế biến, xuất khẩu ra ngoài, tức là một nền kinh tế đi làm gia công. Khi nguyên vật liệu ở thế giới bên ngoài đều tăng giá, thì thành phẩm mình chế biến ra cũng lên giá. Đó là điều mà giới kinh tế gọi là "nhập khẩu lạm phát"......
Lê Dân: Thưa ông vừa nói là mình nhập khẩu nạn lạm phát vào, nghe hơi khó hiểu, xin làm ơn cho biết rõ hơn?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Giá cả nguyên, nhiên, vật liệu đều lên. Tôi lấy thí dụ như giá dầu thô, tất cả các nguyên, vật liệu như sắt, thép, ximăng, phân bón, clinker....đều tăng giá so với năm ngoái.
Khi mình nhập khẩu những mặt hàng cần thiết đó, nhất là trong tình trạng hiện nay của kinh tế Việt Nam, tức nhập khẩu nguyên vật liệu, xong lấy công thợ của mình chế biến, xuất khẩu ra ngoài, tức là một nền kinh tế đi làm gia công. Khi nguyên vật liệu ở thế giới bên ngoài đều tăng giá, thì thành phẩm mình chế biến ra cũng lên giá. Đó là điều mà giới kinh tế gọi là "nhập khẩu lạm phát"......
Lê Dân: Thưa ông, ngoài nguyên nhân gây lạm phát vừa kể, ông phó vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi trao đổi với tờ Vietnam Economy có nhấn mạnh đến nguyên nhân to lớn hơn, là động thái của Ngân hàng Nhà nước, mà ông xin dùng cụm từ Ngân hàng Trung ương thay thế, đã tung lượng ngoại tệ lớn nhất từ trước tới nay để mua đôla, tăng tài sản ngoại tệ. Ông nghĩ sao về việc đó ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Dạ thưa cái đó là hoàn toàn đúng. Đó là nguyên nhân chủ yếu, khác với nguyên nhân gây lạm phát năm 2004. Riêng năm nay, hồi tháng Năm vừa rồi, Ngân hàng Nhà nước tung tiền Việt Nam ra để mua lại 7 tỷ đôla ngoài thị trường, tương đương 112 ngàn tỷ đồng Việt Nam được đưa vào thị trường. Đó là điều chúng ta nói khi nãy là hàng thì ít, mà tiền thì nhiều, là ở nguyên do đó.
Động thái vừa kể có nguyên nhân tiềm ẩn bên dưới, đó là chính quyền Việt Nam muốn giữ giá đồng bạc Việt Nam thấp để giúp cho việc xuất khẩu, giá hàng Việt Nam rẻ hơn, đồng thời lại làm tăng trữ lượng ngoại tệ.
Tuy nhiên khi làm việc đó, người ta đã không nghĩ tới hậu quả của nó, là đẩy một lượng tiền quá lớn vào lưu thông trong nền kinh tế, trong khi lượng hàng hóa không gia tăng, nên nó thúc đẩy nạn lạm phát. Đó là trường hợp rất cổ điển, ai cũng thấy được, riêng ở Việt Nam tôi không hiểu tại sao người ta lại để xảy ra chuyện như vậy ...
Thu hút lượng tiền đang lưu thông
Lê Dân: Đã nhìn thấy như vậy thì liệu bây giờ Nhà nước Việt Nam có nên gấp rút hút lượng tiền đang lưu thông về lại khu vực ngân hàng hay không, thưa ông ?
Họ cũng nhìn ra điều đó, nhưng cơ chế để có thể thực hiện được, dùng những khí cụ tài chính để có thể điều tiết như vậy, như trường hợp Ngân hàng Trung ương của Trung Quốc hoặc của các nước trên thế giới, đối với Việt Nam vẫn khó hơn vì hệ thống, tổ chức còn vá víu.
Nguyễn Xuân Nghĩa: Bây giờ cố gắng thu lại, giống như mình đổ nước ra, rồi tìm cách hút nó vào chẳng hạn. Giống như kem đánh răng, mình bóp nó ra khỏi túyp thuốc, rồi tìm cách hút vào, thì khó hơn.
Nó còn tùy thuộc vào nhiều phản ứng, rất là bén nhậy, hoặc chậm rãi tùy theo quán tính của từng tác nhân kinh tế. Các giới chức Việt Nam cũng biết chứ không phải là không biết ..
Lê Dân: Chuyện thu hút lại lượng tiền đang lưu thông ngoài thị trường xem chừng khó, dù Ngân hàng Nhà nước buộc các ngân hàng thương mại tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hay Nhà nước phát hành thêm trái phiếu chính phủ.
Thế nhưng còn những biện pháp chính phủ mới cho áp dụng như chỉ thị các bộ ngành đều phải tìm mọi cách kiềm chế giá cả trong lãnh vực của mình, như giá xe hơi, giá sữa, giá sách giáo khoa, giá ga, giá xăng dầu.....thì hiệu quả sẽ ra sao, thưa ông ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Nếu chúng ta nhìn ra những nguyên nhân của nạn lạm phát thì sẽ suy ra được những phương cách ứng xử. Nhưng qua những trường hợp ông mới trình bày cho thấy không có sự nhất quán.
Việt Nam hiện theo kinh tế thị trường, nhưng lại có định hướng Xã hội Chủ nghĩa, đưa đến hệ quả là chúng ta có hệ thống phân phối rất kém, đồng thời vẫn có sự độc quyền của một số doanh nghiệp, ở đây là doanh nghiệp nhà nước.
Khi điều chỉnh giá cả thì những doanh nghiệp độc quyền vẫn giữ quyết định về giá cả.
Khi có quyết định bảo là phải kiểm soát giá, hay giữ cho mặt hàng này, mặt hàng kia không được lên giá, thì khả năng điều tiết của chính quyền trong nền kinh tế đó không có tác dụng. Nó là một vòng lẩn quẩn vì mỗi người chỉ nhìn một góc của vấn đề mà thôi.....
Lê Dân: Việt Nam liệu có rút được kinh nghiệm và làm theo như Trung Quốc mới áp dụng hồi cuối tuần rồi là quyết định tăng lãi suất ngân hàng để thu hút lượng tiền trên thị trường trở lại không thưa ông ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Họ cũng nhìn ra điều đó, nhưng cơ chế để có thể thực hiện được, dùng những khí cụ tài chính để có thể điều tiết như vậy, như trường hợp Ngân hàng Trung ương của Trung Quốc hoặc của các nước trên thế giới, đối với Việt Nam vẫn khó hơn vì hệ thống, tổ chức còn vá víu.
Tôi lấy thí dụ như hiện nay lãi suất huy động, tức lãi suất có thể thu hút ký thác, thu hút tiết kiệm của Việt Nam vẫn rất thấp. Có thể Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra biện pháp mà chúng ta đã nói đến, tức đòi hỏi nâng cao mức dự trữ của các ngân hàng để tiết giảm số lượng cho vay của các ngân hàng thương mại ra bên ngoài. Những biện pháp đó không thể nào có tác dụng ngay lập tức
Lê Dân: Cám ơn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc trao đổi hôm nay.
