Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
Xuất khẩu cá tra và basa của Việt Nam có khả năng đạt 1 tỷ đô la vào cuối năm 2007. Do có lợi nhuận cao trước mắt, nên tấc đất tấc vàng đều dành cho việc đào ao thả cá. Tình trạng này đe doạ ôi nhiễm môi trường nguồn nước, cũng như tiềm ẩn nguy cơ cung vượt cầu. Nam Nguyên tường trình.

Thời kỳ khó khăn do vụ kiện bán phá giá cá da trơn vào thị trường Hoa Kỳ và phá sản nuôi cá bè đã trở thành dĩ vãng. Hiện nay sản phẩm filet cá basa và cá tra đông lạnh của Việt Nam đã được xuất khẩu tới 75 thị trường trên thế giới.
Theo thông tin của Hiệp Hội Chế Biến và Xuất Khẩu Thuỷ Sản Việt Nam VASEP, giá xuất khẩu trong nhiều tháng qua ổn định trong mức 2 đô la 70 xu tới 3 đô la rưỡi một kg. Giá thu mua cá nguyên liệu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện quanh quẩn mức 14 ngàn/kg, là mức giá tốt cho người nuôi.
Lạc quan
Báo cáo của VASEP đưa ra cái nhìn lạc quan, giá trị xuất khẩu mặt hàng cá basa và cá tra từ đầu năm 2007 tới nay được ghi nhận gia tăng 41%. Theo tin này, tỉnh An Giang một trong những địa phương phát triển nhanh về nghề nuôi cá tra và basa, tỷ lệ tăng hơn một nửa cả về sản lượng lẫn giá trị.Chỉ riêng An Giang xuất khẩu 120 ngàn tấn sản phẩm cá tra cá basa trị giá 320 triệu đô la.
Những kết quả phấn khởi đạt được về xuất khẩu cá tra và basa có phần do cung cầu ổn định, mặc dầu thời gian qua diện tích nuôi được phát triển rất nhanh. Quyền sử dụng đất của rất nhiều nông dân, đã sang tay đổi chủ cho người đầu tư nuôi cá hai bên bờ sông Tiền sông Hậu.
Các chuyên gia cho rằng vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể gia tăng diện tích ao nuôi lên tới hơn nửa triệu ha, tuy nhiên đa số các ao nuôi đều xả nước bẩn ra sông, tức là xả trực tiếp ra nguồn nước đe doạ môi trường, cũng như phá vỡ qui hoạch của Nhà nước. Ông Nguyễn Tử Cương Cục Trưởng quản lý chất lượng an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản Bộ NN&PTNT đưa ra nhận định:
“Đây là vấn đề vô cùng khó khăn khi chúng tôi phát triển kinh tế thị trường. Bởi vì trong luật của Việt Nam người nông dân, ngư dân có quyền lựa chọn phương án hình thức sản xuất có lợi nhuận cao nhất để họ quyết định trên mảnh đất của họ.
Tuy nhiên luật môi trường của Việt Nam lại qui định một điều khác là làm gì thì làm nhưng không được huỷ hoại môi trường môi sinh nói chung. Do vậy chúng tôi đang triển khai việc đánh giá tác động của hoạt động nuôi trồng đối với môi trường nói chung, từ đó dẫn tới quyết định cho phép một vùng là bao nhiêu ao, nuôi bao nhiêu và hình thức nuôi như thế nào để ít tác động đến môi trường.
Hoạt động này đã được khởi xướng nhưng không thể kết thúc trong một vài tháng mà đòi hỏi một vài năm. Trên cơ sở đó từng làng xã từng tập đoàn sẽ quyết định với diện tích của mình sẽ đào bao nhiêu ao là đủ, không được đào thêm nữa. Bởi vì đào thêm sẽ ảnh hưởng môi trường chung và đặc biệt ảnh hưởng ngược trở lại ngay chính ao nuôi của mình.”
Việc kiếm đất để đào ao nuôi cá tra cá basa, hay nuôi cá hầm theo cách gọi của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long rộ lên từ đầu năm 2007, trước kia nông dân nuôi cá bè ngay trên sông, nhưng sau việc nuôi bè bị phá sản vì nguồn nước ô nhiễm cá chết hàng loạt, hoặc cá không lớn được, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
Người dân nhạy cảm với giá thị trường
Người dân Việt Nam rất nhậy cảm với giá cả thị trường, nuôi con gì trồng cây gì không phải là nghe theo khuyến nông, theo qui hoạch mà là chạy theo bà con hàng xóm vừa trúng lớn. Ông Phan Văn Danh, chủ tịch hiệp hội nghề nuôi và chế biến thuỷ sản An Giang đưa ra nhận xét về tính phong trào và chạy theo lợi nhuận:
“Vừa rồi tình trạng đào ao nuôi cá khi có giá lên, mua đất bất chấp chính quyền địa phương hết sức phiền phức. Khi nuôi quá nhiều thì cung sẽ vượt cầu, điều này hiệp hội chúng tôi đã cảnh báo quyết liệt , làm sao nuôi cho vừa đủ cho thị trường tiêu thụ và các nhà máy chế biến xuất khẩu thì mới giữ được giá, đặc biệt là phải nuôi thật tốt. Đúng là cũng cần có sự can thiệp của Nhà nước, nhưng ở mức độ nào thì phải cân nhắc.”
Trải dài từ Bắc chí Nam, diện tích nuôi thuỷ sản của cả nước lên tới 1 triệu hécta. Do những ao nuôi ở rải rác và đại đa số có diện tích từ dưới 1 ha tới vài ha, nên việc quản lý vệ sinh an toàn từ ao nuôi là vô cùng khó khăn. Những cảnh báo về môi trường được đưa ra rất nhiều, như lời Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chiến chuyên gia môi trường và tài nguyên thiên nhiên Trường Đại Học Cần Thơ :
“Các dòng sông chánh thì chưa ô nhiễm nhiều, nhưng rất lo cho các nhánh phụ, vì người nuôi cá xả thẳng ra đó. Chúng tôi cũng đang tìm mọi cách để giảm thiểu tác động đó. Mình không thể nào ngừng sản xuất được nhưng phải sản xuất bền vững.”
Khi xuất khẩu thuận lợi thì không có vấn đề gì để nói, chỉ cần sản phẩm bị vướng dư lượng kháng sinh hay nhiễm bẩn như đã từng xảy ra trong quá khứ, hàng bị trả về hoặc bị giữ lại các bến cảng xa xôi, thì lập tức giá thu mua nguyên liệu trong nước sẽ sụt giảm đến mức không lường trước.
Bài học kinh nghiệm cách đây vài năm vẫn còn nguyên giá trị. Các chuyên gia không ít lần đưa ra khuyến cáo về sự phát triển bền vững. Tuy nhiên tạo được niềm tin và thuyết phục được người nông dân lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.
