Mặt trái kinh tế của biểu hiện ngang ngược

Vừa qua, tại miền Nam California đã có một cuộc hội thảo về "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông" với bốn diễn giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như địa dư và công pháp, lịch sử và chính trị hoặc kinh tế và an ninh.
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2012-08-08
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
  • In trang này
  • Chia sẻ
  • Ý kiến của Bạn
  • Email
hoi-th-bien-dong-305-rfa.jpg
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa phát biểu tại Hội thảo Biển Đông tổ chức ở Nam California hôm 04-08-2012
RFA photo

Trong số diễn giả có chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa với bài phân tích những nhược điểm kinh tế và mục tiêu sâu xa của lãnh đạo Trung Quốc khi bành trướng vào vùng biển Đông Nam Á hay Đông hải của Việt Nam. Mục Diễn đàn Kinh tế tuần này sẽ tìm hiểu về những động lực đó của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Trong cuộc hội thảo trưa Thứ Bảy mùng bốn vừa qua tại miền Nam California, ông có được mời lên trình bày khía cạnh kinh tế của các động thái gần đây của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị ông khai triển những ý ông đã phát biểu ngắn gọn tại cuộc hội thảo này. Nhưng trước hết, xin ông tóm lược cho biết về cuộc hội thảo đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thái độ của Trung Quốc và tình hình căng thẳng gần đây tại vùng biển Đông Nam Á khiến dư luận thế giới quan tâm. Cộng đồng người Việt ở bên ngoài cũng ưu lo về quyền lợi lâu dài của Việt Nam vì thế nhiều đoàn thể hay diễn đàn đều cố tìm hiểu chuyện này. Ban tổ chức cuộc hội thảo vừa qua là một đoàn thể đấu tranh chính trị, họ mời các chuyên gia ở ngoài tổ chức đến trình bày nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề cho công luận cùng biết rõ.

Không là thành viên của một tổ chức chính trị nào, tôi nhận lời phát biểu như một bổn phận và qua đó còn học hỏi được nhiều ý kiến khác. Một diễn giả đáng chú ý là học giả Vũ Hữu San. Ông là sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà, nguyên Hạm trưởng của Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 đã đương cự Hải quân Trung Quốc trong trận hải chiến hồi Tháng Giêng năm 1974 để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Sau 1975, ông đi học lại và nghiên cứu thêm về đặc tính hải dương và chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển Đông hải. Với tôi, ông là một học giả am tường với mấy chục năm cẩn trọng tìm hiểu sâu xa về một vấn đề sinh tử cho Việt Nam.

Nghịch lý

Vũ Hoàng: Thưa ông, trên diễn đàn này từ nhiều năm rồi, ông đã phân tích các vấn đề kinh tế của Trung Quốc nhằm cảnh báo Việt Nam về nhiều khó khăn tương tự. Tại cuộc hội thảo vừa qua, ông phổ biến một bài tham luận rất dài nhưng tóm lược vào một số điểm chính trong phần phát biểu trước cử tọa, mà truyền thông Việt ngữ đánh giá là chăm chú theo dõi. Hôm nay, xin đề nghị ông khai triển những ý đó tới thính giả ở mọi nơi.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Được mời trình bày một đề tài phức tạp nên tôi cố thu gọn vào quãng 20 phút phát biểu để nhấn mạnh đến đặc tính sâu xa của Trung Quốc rồi đến yêu cầu về kinh tế và an ninh ngày nay khiến lãnh đạo xứ này mới là vấn đề của thế giới. Tôi xin trình bày cho rõ hơn ở nơi đây. Trước nhất, Trung Quốc chỉ là một "ốc đảo", thiếu đất, thiếu nước, đói ăn và khát dầu cho nên đang tìm cách giải quyết những bài toán này của họ.

Vũ Hoàng: Hình như ông lại nói ra nghịch lý. Trung Quốc có lãnh thổ bằng 10 triệu cây số vuông, với dân số hơn một tỷ ba, có sản lượng kinh tế chỉ đứng sau Hoa Kỳ và còn là chủ nợ số một của nước Mỹ mà ông lại gọi là ốc đảo thiếu đất thiếu nước đói ăn và khát dầu.... Xin ông lần lượt giải thích cho những chuyện đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu tôi có nêu ra nghịch lý thì chẳng vì lập dị hay kích thích sự chú ý. Vấn đề là khảo hướng, "approach" hay cách tiếp cận một bài toán khách quan từ nhiều giác độ và trong thế động chứ không do cảm quan thù ghét hoặc cứ nhắc lại ấn tượng của nhiều người.

Trước hết, về địa dư hình thể, khu vực cốt lõi của Trung Quốc thật ra chỉ là một "ốc đảo" bên Thái Bình dương. Ngoài hướng Đông là biển cả, ba hướng kia thì bị bao vây bởi núi rừng hiểm trở, sa mạc và thảo nguyên bất lợi cho sự chuyển vận và sinh hoạt. Ý nghĩa ốc đảo là như vậy, xin hãy nhìn vào bản đồ thiên nhiên hay dân số của họ thì mình thấy.

Thứ hai, khu vực phì nhiêu đó là ở miền Đông gần biển, nơi có vũ độ là độ ẩm nhờ nước mưa, đủ cao cho canh tác và có châu thổ của hai con sông Hoàng hà và Dương tử. Khu vực "ốc đảo" này hiện gồm 11 tỉnh và ba thành phố lớn với 500 triệu dân, nhưng diện tích khả canh bình quân cho một người chỉ bằng một phần ba trung bình thế giới, nên ta mới gọi là "thiếu đất".

Thứ ba, trên diện tích lãnh thổ gần 10 triệu cây số vuông, diện tích có nước nhờ chuôm ao sông hồ thật ra chỉ chiếm 0,28%, thấp hơn các nước lớn trên thế giới. Lượng nước ngọt cho một đầu người của Trung Quốc cũng thuộc loại thấp nhất Á châu, vốn dĩ đang là lục địa thiếu nước nhất địa cầu. Vì thế Trung Quốc mới đòi cướp nguồn nước của thiên hạ, từ đỉnh Hy Mã Lạp Sơn đến các con sông lớn của châu Á và sông Mêkong quen thuộc của người Việt.

Thứ tư mới là chuyện đói ăn. Do khan hiếm đất và nước bên trong mà chưa biết cải tiến, dù có sản lượng lương thực lớn nhất địa cầu, Trung Quốc vẫn phải nhập nông sản và lãnh đạo sợ nhất là chuyện dân chúng nổi loạn vì thiếu ăn như đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử.

Thứ năm, không chỉ thiếu ăn mà Trung Quốc còn khát dầu, vì thiếu nguyên nhiên vật liệu là các nhập lượng cần thiết cho việc công nghiệp hóa đang khởi sự. Vì hiệu năng tiêu thụ kém, xứ này xài phí và từ cả chục năm nay phải nhập khẩu dầu thô và khí đốt từ nhiều nơi để bổ xung cho than đá ở bên trong.

Một quốc gia có 3 nền kinh tế

000_Del6109110-250.jpg
Sông Dương Tử, Trung Quốc. AFP photo
Vũ Hoàng: Như vậy, ông cho là vì những khan hiếm và không nuôi nổi một dân số quá đông ở bên trong, Trung Quốc mới muốn bành trướng ra ngoài để tìm tài nguyên cần thiết cho một xứ đang công nghiệp hóa hay sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là nhiều người lý luận như vậy, nhưng tôi nghĩ sự tình còn nguy hiểm hơn vậy vì nhiều lý do khác.

Chúng ta không quên các lân bang của Trung Quốc còn gặp hoàn cảnh tài nguyên bất lợi hơn nhiều, như Nam Hàn và Nhật Bản. Nhưng trong thế kỷ 21 nếu mà cứ thiếu thì lại đi ăn cướp sao? Nhật Bản từng gặp bài toán đó nên giải quyết bằng xâm lăng và bành trướng quân sự như đã thấy vào các năm 1910, 1931 rồi 1941 với kết quả là chiến tranh và tàn phá cho cả châu Á và nước Nhật. Cho nên từ năm 1945 họ đã chuyển qua hướng hợp tác trong hòa bình để phát triển.

Vũ Hoàng: Vì sao lãnh đạo Trung Quốc không giải quyết theo hướng đó? Trong cuộc hội thảo, ông có nói đến sự sợ hãi và đặc tính mà ông gọi là "nhất quốc tam kinh", một quốc gia có ba nền kinh tế. Thưa ông chuyện ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ Trung Quốc là nơi mà nỗi sợ hãi bị ngoại xâm đã thành một phần bản chất của lãnh đạo mọi thời. Nó được định chế hóa và xây dựng lên như một kiến trúc có thể thấy từ mặt trăng, đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc và mở rộng rồi củng cố vào đời Tần Thủy Hoàng Đế và thời Minh. Nền văn hoá duy chủng và độc tôn của Hán tộc khiến họ khinh miệt các chủng tộc vây quanh mà họ coi là "tứ di", bốn hướng đều là man rợ. Thực tế thì Hán tộc ở Trung Nguyên vẫn bị các dị tộc tấn công và làm chủ nhiều lần trong mấy thế kỷ. Vì vậy mới có phản ứng phòng thủ bằng thành lũy ngay từ trong đầu.

Thứ nữa là yếu tố "tam phân". Do hình thể, lãnh thổ Trung Quốc có ba khu vực với đặc tính kinh tế khác biệt và đấy là bài toán của lãnh đạo ngày nay. Thứ nhất là cái ốc đảo tương đối trù phú và "hướng ngoại" của 11 tỉnh tiếp cận với biển cả và mở ra thế giới bên ngoài. Thứ hai là khu vực "nội địa" gồm tám tỉnh bị khóa trong lục địa, nơi sinh sống của 450 triệu dân nghèo hơn. Khu vực này khô cằn và có ít đường chuyển vận nên vẫn bị lạc hậu dù lãnh đạo đã nhiều lần ra sức đầu tư để khai khẩn. Khu vực thứ ba 11 tỉnh bao trùm lên phân nửa diện tích lãnh thổ cũng là vùng hoang vu hiểm trở ở hướng Tây và hướng Bắc. Với diện tích bạt ngàn và dân cư thưa thớt, đây là đất biên vực gồm cả lãnh thổ xứ khác mà lãnh đạo mọi thời đều muốn kiểm soát để biến thành vùng trái độn quân sự hầu bảo vệ các khu vực kia, nhất là Trung Nguyên của Hán tộc.

Vì chưa có dân chủ và không theo thể chế liên bang, Trung Quốc chưa thể phát triển ba khu vực này một cách công bằng và hài hòa. Lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thực quyền kinh tế và kinh doanh trong tay nhà nước và thân tộc, xứ này không giải quyết được bài toán kinh tế và thường bị nguy cơ nội loạn. Thí dụ gần đây nhất không chỉ là Trùng Khánh, Ô Khảm hay Ôn Châu, mà là xung đột giữa tư doanh và quốc doanh về dầu khí tại huyện Tĩnh Biên của tỉnh Thiểm Tây.

Vũ Hoàng: Khi bên trong có đầy mầm loạn như vậy thì thưa ông, tại sao lãnh đạo Trung Quốc còn gây thêm vấn đề với những quyết định về ngoại giao, quân sự và kinh tế ở ngoài Đông hải của Việt Nam?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta đi vào một khía cạnh tâm lý của lãnh đạo Trung Quốc thời nay là họ rất tinh vi trong sự lỗi thời, lại một nghịch lý khác mà chúng ta cố hiểu ra.

Trong mấy ngàn năm huy hoàng của văn hoá Trung Hoa, lãnh đạo Trung Quốc cho thần dân sống với ảo tưởng rằng mình là trung tâm của thiên hạ, tên nước của họ có phản ảnh tâm lý đó. Nhưng đấy là ảo giác vì các chư hầu chung quanh đều cứng đầu và gây tốn kém khiến triều đình ở trung ương nhọc lòng không ít. Họ cứ phải ra sức trấn áp hoặc đồng hóa dị tộc và củng cố vùng trái độn quân sự bên trong. Trung Quốc là một cường quốc lục địa cứ quay lưng ra biển chứ chưa bao giờ là cường quốc hải dương.

Xưa nay, xứ này sống trong chế độ tự cung tự cấp và ít lệ thuộc thế giới bên ngoài, cần gì thì đã có Con Đường Tơ Lụa qua Trung Á. Ngày nay, và lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc không thể quay lưng ra bên ngoài vì tùy thuộc vào các nước để có thị trường xuất khẩu, có nguồn cung cấp nhập lượng và kỹ thuật cho kinh tế ở bên trong.

Vì đến 90% lượng hàng hóa trao đổi giữa các lục địa ngày nay đều qua đường hàng hải, là cách rẻ nhất, việc tự do chuyển vận qua đại dương là nhu cầu sinh tử cho thế giới và được quốc tế công nhận, được đệ nhất siêu cường hải dương là Hoa Kỳ bảo vệ. Khi mở cửa ra ngoài, lãnh đạo Trung Quốc lại muốn kiểm soát quyền tự do đó, trước hết là trên vùng biển cận duyên.

Bành trướng và ngang ngược

image.jpg
Cái gọi là Thành phố Tam sa của Trung Quốc chụp hôm 25/7/2012. AFP photo
Vũ Hoàng: Qua phần trình bày phải nói là rất cô đọng vừa rồi, người ta thấy ra ít nhất hai vấn đề với lãnh đạo Bắc Kinh. Trước hết là quyền khai thác tài nguyên ngoài biển cả mà Trung Quốc lại coi là thuộc chủ quyền của mình ở ngoài Đông hải. Thứ nữa là quyền tự do vận chuyển mà lãnh đạo xứ này lại muốn kiểm soát và thực ra là hạn chế. Có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là ngoài Đông hải của Trung Quốc tức là vùng biển Đông Bắc Á, xứ này gặp các lân bang phú cường và không sợ. Tại Đông hải của Việt Nam, tức là vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc gặp các quốc gia nhỏ yếu hơn nên mới tính trò hung hãn và ly gián. Đã vậy, vùng biển Đông Nam Á còn có vị trí chiến lược cho luồng vận chuyển từ Thái Bình dương qua Ấn Độ dương, từ Đông Bắc Á xuống đến Úc châu nên cũng là vùng sinh tử cho kinh tế Trung Quốc, là điều chưa hề có bao giờ, nên họ muốn kiểm soát lấy.

Cho nên, ngoài việc vẽ ra cái lưỡi bò chín khúc để tranh đoạt tài nguyên ngoài Đông hải, chiếm lấy các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, rồi đưa hải quân vào vùng tranh chấp chủ quyền với các nước Đông Nam Á, lãnh đạo Bắc Kinh còn muốn biến vùng biển Đông Nam Á thành vùng trái độn quân sự của mình.

Tôi muốn được nhấn mạnh đến sự kiện là Trung Quốc không chỉ muốn cưỡng đoạt tài nguyên thủy sản hay năng lượng và kim loại dưới biển Đông Nam Á mà còn đòi xây dựng khu vực này thành vùng trái độn quân sự tương tự như Tây Tạng, Tân Cương, hay Nội Mông. Nếu thế giới không có phản ứng thì sẽ có ngày Bắc Kinh gọi đây là khu vực quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Như vậy hình như dự báo của ông lại còn bi quan hơn cái nhìn của nhiều người vì không thu hẹp vào chuyện tước đoạt tài nguyên dưới đáy biển.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi sẽ lại nói ngược nữa! Chính là thái độ ngang ngược của xứ này khi họ chưa có một lực lượng hải quân hùng mạnh lại là điều may vì sẽ khiến thế giới chú ý và các nước liên hệ phải có phản ứng. Các nước liên hệ không chỉ là Việt Nam hay Philippines bị cướp mất lãnh hải và tài nguyên ở dưới mà còn có các nước bị hạn chế vận chuyển qua các dòng hải lưu hay hiểm lộ ngoài biển. Chúng ta đã thấy và sẽ thấy phản ứng đó của quốc tế.

Nếu Bắc Kinh chấp nhận luật lệ quốc tế như đa số các nước về quyền khai thác tài nguyên và quyền vận chuyển ngoài biển thì còn có đàm phán hầu giải quyết các mâu thuẫn. Vì đa nghi và chủ quan, họ không tôn trọng điều ấy nên mới là vấn đề cho thế giới chứ không là vấn đề riêng của Việt Nam. Còn vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, có lẽ nó nằm trong đảng Cộng sản và vấn đề ấy thì người Việt phải giải quyết lấy hầu có thể hợp tác cùng các nước để giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới. Nhưng chuyện ấy vượt khỏi đề tài của chúng ta ở đây.

Vũ Hoàng: Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Theo dòng thời sự: