Hệ thống Chính trị-Báo chí tại Việt Nam qua vụ bắt giam 2 nhà báo?

2008-05-16

Từ đầu tuần này, dư luận trong và ngoài nước đều chú y đến sự kiện công an bắt 2 nhà báo là các ông Nguyễn Việt Chiến, 56 tuổi, làm việc cho tờ Thanh Niên; ông Nguyễn Văn Hải, 33 tuổi, phóng viên của tờ Tuổi Trẻ.

Vietnam_Newspapers_pmu18_305.jpg
Báo chí Việt Nam loan tin về vụ 2 nhà báo Nguyễn Văn Hải của tờ Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên bị bắt giam và khởi tố vì viết bài về vụ PMU18.
Cả hai người bị công an bắt đều là những nhà báo nổi tiếng của giới truyền thông Việt Nam, được biết đến như những cây viết đi xung phong trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực.

Theo chính phủ, cả hai nhà báo có tên vừa nêu đều bị bắt về tội thông tin sai lạc trong vụ án từng gây sôi nổi một thời mang tên vụ án PMU 18.

Vụ án này có liên quan đến một ông thứ trưởng, ông này bị đưa ra tòa, bị kêu án, và chỉ mới một vài tuần trước đây bản án của ông ta được hủy bỏ, kẻ đang sống cuộc sống của một người tù được trắng án, được phục chức và được trả lại cả đảng tịch. Điều đó khiến dư luận hoang mang không ít.

Chỉ vài tuần sau đó, công an bắt hai nhà báo từng đi đầu trong những bài viết nói về vụ án và tội của ông cựu thứ trưởng. Lần này dư luận lại càng hoang mang hơn nữa.

Chuyện nhà báo Việt Nam bị bắt là đề tài được Ban Việt Ngữ chúng tôi chọn cho Tạp Chí Câu Chuyện Thời Sự Hàng Tuần do Nguyễn Khanh phụ trách.

Tạp chí tuần này được thực hiện với sự cộng tác của Thiện Giao và Thanh Quang ở Washington, cùng với một số người đang hoạt động trong ngành truyền thông trong nước.

Từ PMU18 tới vụ bắt phóng viên

Khởi thuỷ, người ta gọi tên vụ án này là “vụ PMU 18.” Rồi sau đó, vụ PMU 18 được nâng cấp lên, thành “Vụ Nguyễn Việt Tiến.” Những ngày gần đây, nếu xét về chiều rộng và cả chiều sâu của dư luận, người ta gọi đây là “vụ bắt phóng viên.”

Vụ bắt 2 phóng viên Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến báo Thanh Niên đã tạo một sự xúc động sâu rộng trong dư luận Việt Nam: “Từ một vài người dân trong nước, bất bình với việc bắt phóng viên”.

Trong toàn bộ vụ PMU 18, có một điều ít ai để ý, nhưng lại là yếu tố gần như quyết định trong toàn bộ sự tiến hoá từ đầu cho đến khi trở thành đẳng cấp “bắt phóng viên” gây xôn xao dư luận, đó là sự có mặt và chi phối của dư luận trong các quyết định của cơ quan chức năng.

Tin tức báo chí trong nước loan tải vào thời điểm ông cựu thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được trả tự do, đăng lời nhận định do Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao đưa ra, rằng rõ ràng ở thời điểm ông Tiến bị bắt, ở Bộ Giao Thông Vận Tải, Nguyễn Việt Tiến đang là “ngôi sao sáng.”

Và nếu con đường phát triển thuận lợi thì Nguyễn Việt Tiến không phải là Nguyễn Việt Tiến bây giờ mà phải có cái gì khác hơn nữa. Trong bối cảnh như vậy, chắc là cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra với ông Tiến, vừa có cả vấn đề về pháp lý, vừa có cả vấn đề dư luận.

Viện Kiểm Sát còn nhận định thêm, rằng vào thời điểm ấy, các vụ đánh bạc lên đến cả triệu rưỡi đôla của Bùi Tiến Dũng, những đường dây chạy án, và “hàng loạt vấn đề bùng nhùng” khiến cho “dư luận nhìn vào chỗ ấy là đen tối.”

Dư luận phẫn nộ, bàng hoàng

Rõ ràng, dư luận đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ sự việc. Và dư luận tạo nên một vòng tròn khép kín khởi đi từ vụ PMU 18 với Bùi Tiến Dũng cho đến vụ bắt hai phóng viên cách đây ít hôm.

Khởi đầu, dư luận phẫn nộ về việc quan chức dùng tiền công đi đánh bạc lên đến cả triệu đô la. Rồi dư luận phẫn nộ hơn nữa khi được thông tin là trong vụ PMU 18, cả một thứ trưởng của Bộ Giao Thông Vận Tải cũng dính dáng đến tham nhũng.

Chưa hết, dư luận tiếp tục bàng hoàng khi thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được tuyên bố gần như vô tội sau 2 năm điều tra.

Đến trung tuần tháng Năm, dư luận dường như không còn không gian để có thể phát triển sâu hơn và rộng hơn, khi một đêm thức giấc dậy, cả nước được biết 2 phóng viên của 2 tờ báo lớn nhất Việt Nam, được xem là đi đầu trong chiến dịch thông tin phanh phui vụ PMU 18, bị bắt. Mà lý do được đưa ra lại liên quan trực tiếp đến công tác đưa tin trong quá trình phanh phui vụ án này.

Trong toàn bộ vụ tham nhũng có thể được xem là lớn nhất từ trước đến nay, cả hệ thống báo chí, cả hệ thống tư pháp, đều hành xử dựa trên nền tảng của dư luận. Và trong ngữ cảnh ấy, chính dư luận được sử dụng, hay đúng hơn, bị lợi dụng, như vũ khí then chốt để những phía tham gia tác động lên quyết định của cơ quan chức năng.

Nói một cách ngắn gọn, giới báo chí, tức phía có thể tạo ra dư luận, trong một chừng mực nào đó đã bị lợi dụng để tác động dư luận; rồi dựa trên đó, một ai đó ra lệnh bắt một ai khác.

Những mâu thuẫn trong Luật báo chí VN

Đầu tiên, hãy xem lý do mà cơ quan chức năng ra lệnh bắt, khởi tố hai phóng viên Hải và Chiến. Rõ ràng, hai người này bị bắt vì “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

Yếu tố này cho thấy, trên tất cả, hai anh Hải và Chiến là những công chức đang thực hiện nhiệm vụ báo chí. Điều này có nghĩa, các phóng viên này được đối xử như bất cứ một công chức nào khác trong hệ thống công quyền.

Là một công chức, cả Hải và Chiến có quyền, thậm chí, có trách nhiệm, tin vào, cũng như sử dụng thông tin từ một công chức khác trong hệ thống của mình. Đó là điều tự nhiên.

Chính điều tự nhiên này tạo ra sự mâu thuẫn nội tại của hệ thống báo chí hiện nay tại Việt Nam.

Trước hết, hãy trở lại với chi tiết, rằng hai phóng viên Hải và Chiến bị bắt khi đang thi hành công vụ. Như đã nói, chi tiết này cho thấy, các phóng viên làm việc trong hệ thống báo chí Việt Nam là những công chức. Tính chất công chức càng rõ nét hơn cho những người có vị trí cao hơn trong các ban biên tập.

Điều này thể hiện rất rõ trong luật báo chí Việt Nam. Theo luật, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp.

NguyenVietTien_305.jpg
Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến lúc bị công an bắt giải về trại tạm giam hôm 4-4-2006 vì liên quan đến vụ tham nhũng đánh bạc PMU18. Photo courtesy of VietnamNet.
Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Trong trường hợp có nhu cầu một tổng biên tập. Đề nghị một tổng biên tập sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc.

Báo chí và Chính quyền

Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo.

Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị bổ nhiệm Tổng Biên Tập, họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.

Tính chính trị rõ nét trong tiến trình bổ nhiệm các vị trí cao cấp trong ngành báo chí cho thấy sự phụ thuộc chính trị của báo chí với chính quyền.

Sự phụ thuộc này có thể được suy diễn rằng, báo chí thiếu sự độc lập cần thiết. Nói đúng hơn, báo chí là công cụ của nhà nước trong các công tác tuyên truyền:

“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”

“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”

“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”

Đó là nhận định của các nhà báo tự do phát biểu từ Việt Nam.

Trở lại vụ bắt nhà báo. Hai nhà báo bị bắt cách đây ít hôm là hệ quả đến từ sự mâu thuẫn giữa thực tế công cụ và nhu cầu độc lập trong nền báo chí.

Thách thức của cạnh tranh, hội nhập

Từ trước đến nay, nhà nước dùng báo chí như công cụ, và chính báo chí cũng tự xem mình là công cụ. Xét trên khía cạnh ấy, báo chí đã tạo ra một số dư luận tốt, có tính định hướng cho nhà nước.

Tính chất này, những năm về sau, trở nên bị thách thức khi giữa các tờ báo có sự cạnh tranh khốc liệt để chiếm độc giả. Cạnh tranh báo chí, tức là cạnh tranh thông tin. Các báo phải có những phương cách lấy tin riêng, nhất là những tin “độc” và “đắc”.

Hệ quả là, các phóng viên phải dựa vào thông tin từ các cơ quan công quyền khác, như kết quả thanh tra của cơ quan thanh tra, kết luận điều tra của cơ quan điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát và các bản án của toà án.

Đa số, nếu không phải là tất cả các tờ báo, thường loan tải tin tức khá giống nhau, từ sự kiện, nội dung sự kiện, cho đến quan điểm.

Sự khác biệt, nếu có, chỉ là thời điểm.

Một người có quá trình lâu năm theo dõi hoạt động báo chí, nhận định:

“Vụ Hoàng Linh trong vụ án Năm Cam, có hàng loạt nhà báo bị dính. Các nhà bào này là thân hữu của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Những người có tỳ vết với pháp luật thường phải làm thân với phóng viên, giữ quan hệ với phóng viên. Vụ Năm Cam có ai?

Có Hoàng Linh, phóng viên nội chính của Tuổi Trẻ; có Thư Lê, phóng viên nội chính của Sài Gòn Giải Phóng; có Quang Thắng, thư ký toà soạn báo Công An.... Những nhà báo này viết về nội chính, họ bị bắt vì sự biến chất. Họ đã từng rất nổi tiếng, họ viết tin rất nóng, vì có quan hệ rất chặt, luôn luôn có tin trước những nhà báo khác. Những bài họ viết thường kéo cơ quan pháp luật vào cuộc”.

Nghiệp vụ và Công vụ?

Có một số chi tiết đáng chú ý trong vụ bắt hai phóng viên Hải và Chiến, cũng như việc phanh phui các vụ án trước đây. Đó là, những nhà báo trong lãnh vực Nội Chính và Giáo Dục thường được công chúng Việt Nam biết đến nhiều nhất. Lý do là vì đây là những lãnh vực có nhiều vấn đề không thể chấp nhận được đối với đa số công chúng Việt Nam.

Những nhà báo nội chính là những người có mối quan hệ tốt với các cơ quan công quyền trong lĩnh vực nội chính, như công an, thanh tra, kiểm sát, toà án.

Làm sao họ có thể tạo dựng mối quan hệ tốt với các cơ quan công quyền này? Theo lời một nhà báo làm việc lâu năm cho những tờ báo lớn tại Việt Nam, cánh nhà báo phải chứng minh với các cơ quan công quyền rằng, mình là người có thể tin được, rằng hai bên có thể hợp tác được.

Vì vậy, những tin, bài nóng trong thẩm quyền của các cơ quan như vừa kể sẽ được tiết lộ, và được tiết lộ cho một số nhà báo có mối quan hệ tốt.

Sau một thời gian đeo bám mảng nội chính, các nhà báo cũng trở thành nhân vật quan trọng. Quan trọng vì họ có thể chi phối dư luận, thậm chí có thể chi phối cả một số cơ quan bảo vệ pháp luật. Quan trọng vì, hễ họ đề cập đến ai, thì một thời gian ngắn sau, người đó bị bắt hoặc bị thanh tra.

Nói cách khác, những nhà báo như Hoàng Linh, Quang Thắng, Thư Lê vừa được đề cập, trở thành một thứ quyền lực; quyền lực không cần chức vụ.

Sự gay cấn trong vụ bắt hai phóng viên Hải và Chiến còn nằm ở chỗ: 2 phóng viên này bị chính nguồn tin của mình lợi dụng bằng cách tung tin bịa đặt. Điều này khiến dư luận tự hỏi, vậy, họ bị bắt vì lý do nghiệp vụ, hay vì lý do công vụ? Trên thực tế, họ bị bắt và khởi tố vì “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

“Vụ bắt 2 phóng viên cho thấy, thông tin do cơ quan điều tra, thậm chí ở vị trí rất cao, và rất chuyên nghiệp là Cục Cảnh Sát Điều Tra, tung ra, và đó, thậm chí là tin giả. Tin giả là để tạo dư luận áp lực lên các bộ phận khác của nhà nước. Do đó, người dân thấy báo chí không đáng tin cậy.”

Lệnh ngưng loan tin

Chính vì tất cả những mâu thuẫn về vị trí và tư cách tác nghiệp khiến việc biện hộ của báo giới, đặc biệt là hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ, mang tính chất vừa có thể chấp nhận vừa không thể chấp nhận. Hai tờ báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên lập luận, rằng họ lấy tin từ cơ quan nhà nước, và từ đó loan đi, nên không thể có tội.

Lập luận này xem chừng không thuyết phục. Đối chứng với báo chí phương Tây, tiến trình thu thập, đối chứng, loan tải thông tin phức tạp hơn nhiều.

Điều quan trọng là, báo chí chịu trách nhiệm với bạn đọc. Uy tín của tờ báo thành hình từ tính độc lập, không bị chi phối của ai. Trong trường hợp này, 2 tờ báo lớn nhất, có uy tín nhất Việt Nam phần nào đã thể hiện tâm lý chấp nhận trở thành công cụ.

Vụ bắt hai phóng viên Nguyễn Văn Hải của báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên đặt ra một số câu hỏi.

Các phóng viên, khi nhận được thông tin từ các cơ quan điều tra, có kiểm chứng thông tin hay không?

Báo chí có tiếp tục đứng vững với kết luận của mình, rằng cựu thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến có tội hay không?

Nếu tin rằng ông Tiến có tội, báo chí có tiếp tục đến cùng bằng những chứng cứ riêng của mình, để chứng minh điều này không?

Ngược lại, nếu không thể chứng minh ông Tiến có tội, báo chí có sẵn sàng trong việc xin lỗi ông Tiến và nhận trách nhiệm trước độc giả hay không?

Có lẽ, cũng còn quá sớm để đặt những câu hỏi này.

Theo 2 nguồn tin riêng, nhắn đi từ Sài Gòn vào tối ngày 14 và sáng ngày 15 tháng Năm, trong cuộc họp giao ban với báo chí, các cơ quan có thẩm quyền đã ra lệnh báo chí ngưng không tiếp tục đưa tin về vụ bắt hai phóng viên của Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Thay vào đó họ phải đưa tin về sự kiện Đại Lễ Vesak 2008 đang diễn ra tại Việt Nam.

Nội dung các tờ báo, trên mạng cũng như báo in, cho thấy lệnh tạm ngưng đưa tin đã bắt đầu có hiệu quả.