Học sinh sinh viên các dân tộc Tây Nguyên trong ngày tựu trường

2009-09-10

Năm học 2009-2010 khai giảng hôm 5 tháng Chín với học sinh cả nước nô nức trở lại trường. Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay mời quí vị về lại vùng cao Tây Nguyên, xem các em người dân tộc đi học thế nào, tương lai của những mầm non ấy ra sao khi mà phương tiện cắp sách đến trường đối với nhiều em hãy còn là chuyện khó.

Những khó khăn của trẻ em dân tộc hiếu học

Thị xã Kontum, tỉnh Kontum, đây là thôn Kon H’rachot, có Tổ Ấm Vinh Sơn 2, ngôi nhà của trên hai trăm trẻ thuộc các sắc tộc

Mẹ cả, xơ Bluih và các em ở Tổ Ấm Vinh Sơn
Mẹ cả, xơ Bluih và các em ở Tổ Ấm Vinh Sơn. RFA file
B’nar, Sedan, M’nông, J’rai, R’ngao, R’lang, Xê Trá vân vân.... Có những em trong nhà này là trẻ mồ côi, có nhiều em còn đủ cả cha mẹ, tất cả đều nghèo quá. Xơ Gông, người Sedan, một trong năm nữ tu đang trông coi các em, cho Thanh Trúc biết trong hai trăm lẻ tám em thì tất cả đi học ở trường ngoài hết trừ mười sáu em nhỏ còn ở nhà:   

“Các khoản khác, qũy  đội, quỹ hội phụ huynh học sinh, bảo hiểm thân thể, bảo hiểm y tế rồi  sổ liên lạc , tất cả đều phải đóng chỉ trừ học phí là không.”

Xơ nói  chỉ khi nào hai anh em hay chị em cùng đi một trường thì một em được miễn đóng:

“Hầu hết các huyện xã thì chỉ có Cấp Một và Cấp hai. Huyện có Cấp Hai,  xã  có Cấp Một. Cấp Hai thì học tại  làng xã của mình nhưng khi học ở huyện thì phải ở nội trú , nhiều khi chung chạ cả trai với gái thành cha mẹ không muốn thành thử nhiều em nó nghĩ học.  Cấp Ba phải về thị xã học thì nếu không đăng ký ở các nội trú thì cũng khó. Tại vì nội trú của dân tộc của nhà nước họ cũng phải ưu tiên gì đó. Còn các em người Công giáo thì phải đăng ký ở giáo xứ nào  gần đó để mà đi học.”

Đối với em Y Lơn, dân tộc B’nar, năm nay vào lớp Mười Một, được học thì thích lắm nhưng khi thầy giảng mà em không hiểu thì em cũng không dám nói: “Em không rành nói tiếng Kinh, ở trường em  muốn phát biểu em không dám dơ tay, em muốn học lắm”.

Xơ Gông đỡ lời cho Y Lơn rằng hầu hết các em dân tộc đều phải đi học trường Kinh mà ngay cả trường dân tộc cũng dạy tiếng Kinh: “Muốn giỏi tiếng Kinh thì phải cho mấy em học thêm, phải  thuê giáo sư dạy thêm ở nhà”. 

Còn em Thiện, người Sedan, mồ côi cha mẹ, đi  học ở Trung Tâm Giáo  Dục Thường Xuyên: “Khó lắm, môn Toán,  môn Hoá và môn Lý rất khó. Thầy dạy rất nhanh không kịp nghe luôn. Em sợ mà không dám nói”.

Đó là hai học sinh lớp Mười Một và lớp Mười Hai ở  thôn Kon H’rachot thị xã Kontum. Thị xã Pleiku tỉnh Gia Lai cũng có  nhiều người dân tộc. Về con số học sinh dân tộc đã tốt nghiệp lớp Mười Hai rồi thi vào Trường Cao Đẳng,  ông B’loát, cư dân địa phương, cho là cũng khá:   

“Cách đây một tuần tôi có gặp một số các em đã được tuyển chọn vào các trường đại học , ở bên Sài gòn cũng có mà bên Qui Nhơn cũng có.  Cao Đẳng Gia Lai cũng có và Cao Đẳng Sư  Phạm cũng có. Những em tốt nghiệp lớp Mười Hai mà  không vào đại học được nhưng mà họ thi vào Trường Cao Đẳng.”

Sinh viên dân tộc tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng

Có những sinh viên dân tộc đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng, trở về bản làng để kiếm việc làm. Bạn  R’ma B’rơh,  dân tộc J’rai, thị trấn Nhơn Hoà, Pleiku, xong trung học năm 2004:

“Sau đó em thi vô Trường Ngoại Ngữ Tin Học ở thành phố Hồ Chí Minh. Đó là trường tư nhưng có cái ưu tiên là mình được giảm học phí nếu mình về quê làm đơn xác nhận của công an đúng là mình khó khăn thật thì được giảm từ 50% trở xuống. Hồi trước em được giảm 30%. bằng của em là bằng phiên dịch , nghiệp vụ của em là phiên dịch tiếng Anh nhưng mà bây giờ ở đây không có ngành đó. Giờ em muốn về đây dạy nên sắp tới em đi học thêm nghiệp vụ sư phạm nữa là ba tháng, sau đó em về đây xin việc làm.”

Bạn Nay  H’nguyên, giáo viên dạy nhạc tại một trường học trong thị trấn, tốt nghiệp phổ thông từ 2001:

“Em  thi vào Trường Trung Cấp Văn Hoá Nghệ Thuật , học  một năm, sau đó em thi vào Cao Đẳng  Sư Phạm Âm Nhạc  của thành phố Pleiku. Học năm 2003 ra trường năm 2006. Năm nay em đi dạy là năm thứ tư, dạy âm nhạc, trường cơ sở Phan Bội Châu ở trong huyện Chư  Xê này. Trường em thì 50% là dân tộc, còn lại là người Kinh”.

Khác với cái nhìn lạc quan của ông B’loát, hai bạn R’ma B’rơh và  Nay H’nguyên đều đồng ý rằng học sinh người dân tộc không phải  ai  cũng học đến hết lớp 12:

“Đó là đúng sự thật rất nhiều người bỏ ngang, có người học lớp Chín  rồi bỏ, lớp Mười  Một rồi bỏ. Rõ ràng đa số cũng do tài chính, gia đình khó khăn, chưa nói đến việc phải đi học xa nữa, sách vỡ quần áo học phí trong trường nữa. Gia đình em cũng không phải là  khá nhưng mà mình phải cố gắng. Gia đình chăm lo cho em rất là nhiều.

Em đi dạy bốn năm nay thì em thấy rằng bắt đầu từ Cấp  Một đi lên thì mấy em dân tộc thiểu số đi học nói chung rất là nhiều. Nhưng mà dần dàn lên tới lớp Tám lớp Chín thì các em bỏ học cũng nhiều. Cái số còn lại để học lên Cấp Ba rất là ít.  Nếu có ý chí vươn lên để học đại học nhưng mà  con số đó rất là ít”.

Vậy nhờ đâu mà Nay H’nguyen có thể học lên cấp cao đẳng và trở thành  cô giáo, bạn kể tiếp:

“Gia đình em cũng rất khó khăn. Hồi em đi học Cha Xứ với các ân nhân giúp đỡ. Lên cao đẳng thì em ở cùng với mấy xơ ở giòng Phú Xuân tỉnh Gia Lai, được mấy xơ giúp đỡ rất nhiều. Cha Xứ cũng phụ giúp em tiền ăn. Còn học bên sư phạm là em được miễn phí. Học giỏi thì được học bổng của trường nữa. Nói chung các dân tộc thiểu số thì trường cũng miễn giảm cho cái phần học phí”.

Một học sinh dân tộc Tây Nguyên trở thành bác sĩ

Thực tế quả là quá ít những học sinh dân tộc Tây Nguyên cố vượt trội cố vươn lên để kiếm lấy cho mình một chỗ đứng một công việc ngang ngửa  với người Kinh. Trường hợp A Vương, mang hai giòng máu B’nar và Sedan, hoc bảy năm Y Khoa tại Đại Học Tây Nguyên do chính phủ lập ra ở thành phố Ban Mê thuột tỉnh Đắc Lắc năm 1977:

“Đa phần là người Ê Đê, so với các đại học khác  thì trường đó nhiều. Cách đây một năm em chuyển xuống Sàigon thì hiện tại em đang ở trong Chợ Rẫy để học lớp chuyên khoa sơ bộ. Nói chung cũng nhờ  gia đình rồi em cũng xin được học bổng ở bên Úc. Bên tỉnh thì Ban Dân tộc Tỉnh có cho em một tháng ba trăm ngàn. Em tranh thủ xin chỗ này chỗ kia một ít”.

Được hỏi là nếu có thể tự đánh giá mình thì A Vương sẽ nói gì, người bác sĩ dân tộc trẻ tuổi này trả lời:

“Thứ nhất là do điều kiện gia đình. Thứ hai là do nổ lực bản thân. Nhiều người thích làm nông hơn là đi học, giống như cùng lứa với em, hai ba buôn làng thì mới có một người tốt nghiệp đại học. Sau  này em nghĩ sẽ dần dần khá hơn  một chút tại vì cuộc sống của buôn làng thì khá hơn, bậc làm cha làm mẹ cũng sẽ kiếm cách khuyến khích con học hành nhiều hơn. Còn trước giờ em thấy đa phần học hết cấp hai là nghĩ”.

Chắc quí vị còn nhớ một lần trong mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi, nói về tương lai của mấy mươi  sắc tộc Tây Nguyên ở Việt Nam thì biện pháp cấp thiết là giáo dục, trong đó chính sách nâng đỡ dân tộc thiểu số của chính phủ quan trọng biết chừng nào, và chưa kể đến những yếu tố cơ bản khác là gia đình, học đường và xã hội.

Ayunpá là một thị xã thuộc tỉnh Gia Lai, cách Gia Lai non trăm kilômét. Nơi đây   có hai huyện vùng sâu vùng xa là K’rôngpa và Iapa với nhiều buôn làng của hầu hết người J’rai .

Ngày tựu trường của học sinh dân tộc ở K’rôngpa và Iapa như thế nào:  “Thường đầu năm học các em nhập học rất đầy đủ , nhưng mà bỏ thì nửa học kỳ một nó bỏ, rồi học kỳ một xong nó bỏ cũng có. Thậm chí nhiều em tới gần thi học kỳ hai nó bỏ cũng có”.

Đó là lời xơ Huệ, nữ tu Công giáo đã sống cùng người dân tộc hơn mười  năm nay. Về lý do tại sao trẻ em Thượng không học hành tới nơi tới chốn, người Thượng không thể  thay đổi cuộc sống  bất kể mọi đầu tư của chính phủ hoặc các tổ chức xã hội, xơ Huệ phân tích:  

Cái thứ nhất các em tới trường học với thầy cô giáo là người Kinh. Người Kinh dạy thì không truyền đạt bằng tiếng J’rai. Các em không tiếp thu được giống học sinh người Kinh nên kiến thức của nó rất hạn chế, rồi từ đó nó nản thì nó nghĩ.

Cái thứ hai, bản chất của mấy em là người dân tộc  thì nó thích chơi, nó thích tự do, nó thích rừng núi của nó. Nhiều khi gò vô học thì nội cái chuyện cầm bút với nó không quen bằng chuyện cầm  cần câu hoặc cầm ná hoặc cầm  cuốc. Cộng thêm đó  cha mẹ không ý thức lắm về chuyện học vấn cho con em. Họ chỉ thấy cái lợi trước mắt là nếu các em đi làm việc thì ngày đó sẽ được mưới mưới lăm ngàn hoặc vài chục ngàn, còn đi học không được đồng nào”.

Ngoài những yếu tố thúc đẩy một vài em lên đại học là bản thân và ý muốn cũng như sự lo lắng của gia đình, xơ Huệ nói tiếp:

“Có những gia đình phải vay mượn để con em đi học lên tới chừng đó. Cộng vô đó là phia các an nhân , bên giáo xứ cộng đoàn. Bên nhà nước cũng có chương trình khuyến học cho các em ví dụ đầu năm học thì họ giúp cho mượn sách và cho một số vở nhất định. Nhưng mà có những vùng các em không nhân được những khoản tài trợ đó. Đóng học phí thì mấy em dân tộc được miễn giảm một khoản nào đó”.

Theo xơ Huệ thì nhìn chung tương lai của học sinh dân tộc còn bấp bênh lắm.  Tuy đã có sự cố gắng từ bản thân các em và từ gia đình nhưng nhìn lại thì tỷ lệ vào đại học  chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Ngày tựu trường của niên học 2009 -2010 đã qua được mấy ngày. Trong lúc học sinh người Kinh có em bị phụ huynh thúc bách học ngày học đêm học thêm học ngoài giờ để mang về thanh tích cao nhất, thì cái học và tương lai của học sinh sinh viên dân tộc Tây Nguyên vẫn đang là  câu hỏi lớn.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp nơi  tạm ngưng ở đây.  Thanh Trúc  cảm ơn sự theo dõi của quí vị.