Thủ tướng Việt Nam chấp thuận đề xuất đánh thuế tuyệt đối gạo và phân bón xuất khẩu. Những biện pháp này mang lại tác dụng gì, trong bối cảnh nền kinh tế tài chánh Việt Nam đang đắm chìm trong phong ba bão táp.
Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng lương thực thế giới, chính phủ Việt Nam đã sử dụng biện pháp hành chánh cấm ký thêm hợp đồng xuất khẩu gạo hồi đầu tháng 4 và hàm ý mở cửa trở lại vào đầu tháng 7.
Lý do an ninh lương thực mà chính phủ viện dẫn thiếu tính thuyết phục vì thực tế Việt Nam thừa gạo trong kho, và đặc thù lúa gạo Việt Nam là các vụ mùa ngắn ngày, cứ mỗi 75 ngày cho tới 90 là nông dân lại có thu họach mới. Không cần phải là chuyên gia mới hiểu điều này, một nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long phát biểu:
“Cứ ba tháng là đồng bằng sông Cửu Long chúng tôi có lúa, vì nông dân không sạ đồng lọat, lo gì an ninh lương thực.”
Cứ ba tháng là đồng bằng sông Cửu Long chúng tôi có lúa, vì nông dân không sạ đồng lọat, lo gì an ninh lương thực.
Nông dân ĐBSCL
Lệnh cấm ký thêm hợp đồng xuất khẩu vào Quí 2, trong lúc vụ Đông Xuân được mùa có tác dụng là giá lúa đang có chiều hướng tăng phải hạ nhiệt tức khắc, không thể tăng tương ứng với giá gạo thế giới.
Mệnh lệnh này cứu được một số doanh nghiệp Nhà nước có nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo với giá thấp trong 2 tháng đầu năm, họ phải thực hiện hợp đồng giao gạo mà giá lúa nội địa lúc này đã vượt xa.
Ngoài ra khi giá lúa đứng, doanh nghiệp mua được nhiều gạo với giá rẻ trữ đầy kho và sẵn sàng xuất khẩu khi lệnh cấm được giải tỏa vào đầu tháng 7. Giá lúa không tăng tương ứng trong khi vật tư nông nghiệp đầu vào tăng theo mặt bằng chung của vật giá làm nông dân điêu đứng.
Trên góc độ nào đó, việc kìm giá 10 mặt hàng thiết yếu, ra lệnh cấm xuất khẩu gạo, đã tạo ra tình trạng đầu cơ tích trữ gạo và hiện tượng xuất khẩu ngược những thứ đã nhập khẩu là phân bón và thép.
“Kéo dài các biện pháp kìm hãm về hành chính, thì sẽ dẫn đến các méo mó thị trường và những hiệu ứng phụ mà chúng ta không mong muốn.”
Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào cuối tháng 5 đồng ý với đề nghị của bộ tài chánh và yêu cầu chuẩn bị thủ tục, để bắt đầu áp dụng đánh thuế tuyệt đối các mặt hàng gạo và phân u rê xuất khẩu ngay trong tháng 6/2008.
Bộ tài chánh cho biết, thời gian qua xảy ra tình trạng ồ ạt xuất khẩu phân bón theo cả hai con đường chính ngạch lẫn tiểu ngạch. Cũng như đã có chuyện người dân sử dụng tàu thuyền xuất khẩu gạo bằng đường biển.
Được biết giá gạo và phân bón trên thị trường thế giới cao hơn Việt Nam ít nhất 30%. Trong khi Việt Nam áp dụng chế độ quota tức hạn ngạch trong xuất khẩu gạo và miễn thuế xuất khẩu, còn thuế suất đối với phân urê là 0%. Việc xuất khẩu phân urê là nghịch lý vì Việt Nam chỉ tự túc được 50% nhu cầu, còn lại là nhập khẩu.
Kéo dài các biện pháp kìm hãm về hành chính, thì sẽ dẫn đến các méo mó thị trường và những hiệu ứng phụ mà chúng ta không mong muốn.
TS Lê Đăng Doanh
Theo sự giải thích của một chuyên viên thuế vụ, thuế tuyệt đối có nghỉã là đánh thuế theo mặt hàng và khối lượng mà không dựa vào giá xuất khẩu.
Hiện nay chưa có chi tiết về mức thuế suất áp dụng với gạo và phân bón, nhưng các chuyên gia nói rằng sẽ linh họat, mức thuế này thay đổi theo tình hình mà Nhà nước muốn xuất gạo nhiều hay ít. Khi muốn giảm việc xuất khẩu, thì ấn định mức thuế cao doanh nghiệp nào chịu nổi cứ việc xuất. Khi thị trường gạo nội địa dồi dào, thuế suất sẽ giảm để khuyến khích xuất khẩu.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS nhận định: "Thuế quan là một công cụ điều khiển nằm trong tay Nhà nước. Tôi nghĩ trong những bối cảnh như hiện nay thì Nhà nước nên sử dụng tất cả những công cụ gì mình có thể sử dụng mà các cam kết quốc tế còn cho phép, để điều tiết họat động kinh tế.”
Trên bình diện khác, Tiến sĩ Lê Văn Bảnh Viện trưởng Viện Lúa Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long hy vọng rằng tiền thuế thu từ xuất khẩu gạo có thể được sử dụng vào các mục đích trợ giúp nông dân.
“Có ý kiến của một số nhà khoa học cũng như bên địa phương cho rằng, thí dụ trước đây bán 300 đô la một tấn gạo thì nông dân được chừng đó, các nhà khoa học được chừng đó. Hiện nay bán được 1.000 đô thì các doanh nghiệp hưởng hết và không có bù đắp trở lại cho người nông dân, cũng như các đơn vị khoa học làm nghề này.
Do đó trước mắt Nhà nước đánh thuế phần này để dùng làm ngân sách và có thể có tác động nào đó cho xã hội. Tôi thấy cái này cũng nên có, vì thực chất sau khi xuất khẩu các doanh nghiệp hiệp hội lương thực Việt Nam hưởng phần chênh lệch do giá thế giới tăng chứ nông dân ở trong nước thì không được hưởng gì.”
Cách đây hai tháng trong một cuộc hội thảo tại Hà Nội, một số chuyên gia quốc tế đã tư vấn chính phủ Việt Nam nên bãi bỏ chế độ quota trong xuất khẩu gạo, thay vào đó đánh thuế mặt hàng gạo bán ra nước ngoài, vừa tăng thu ngân sách vừa là công cụ điều tiết thị trường lúa gạo.
Lúc ấy phản ứng từ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo là hết sức dè dặt vì họ e ngại mất đi một phần lợi nhuận, hoặc là phải cộng thêm tiền thuế vào giá chào bán.
Vào thời gian đó trên báo chí, bà Nguyễn Thị Nguyệt tổng thư ký hiệp hội lương thực Việt Nam nêu ý kiến là, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo chưa thích nghi ngay được với việc đánh thuế xuất khẩu, mà nên có lộ trình áp dụng từ năm 2009.
Sự kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết định áp dụng ngay trong tháng 6 việc đánh thuế tuyệt đối mặt hàng gạo và phân bón xuất khẩu, được giới chuyên gia cho rằng thà chậm còn hơn không. Họ hy vọng người đứng đầu chính phủ Việt Nam đã thấy được là cần để thị trường họat động theo qui luật thị trường, sử dụng công cụ kinh tế tài chánh, thay vì áp đặt mệnh lệnh hành chính.
|
|
Phần âm thanh |
|
|
Tải xuống âm thanh |
|
|
Email bản tin này |
|
|
Đăng ký bản tin |
|
|
In bản tin này |
Chính sách tam nông của Việt Nam
2009: Nông dân trồng cà phê không mở rộng diện tích
Vụ Đông Xuân bắt đầu, nông dân còn nợ nần chồng chất
Công nhân thất nghiệp trở về nông thôn?
Kế hoạch cứu nguy các Tổng Công Ty Lương Thực
Phi Châu muốn mua thêm gạo Việt Nam
Thu hoạch cà phê Việt Nam bị trì hoãn