Hơn 10 triệu hộ nông dân Việt Nam đang thực sự lao động sản xuất và sống nhờ nông nghiệp, trong đó có trồng trọt, chăn nuôi gia súc và thủy sản. Nếu nhìn vào kim ngạch xuất khẩu gạo, cà phê và tôm cá lên tới hơn chục tỷ USD mỗi năm, sẽ dễ dàng thấy rằng người nông dân cần một lượng vốn rất lớn.
Theo nghiên cứu của Viện Chính Sách và Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn được truyền thông nhà nước trích thuật, nhiều hộ nông dân không tiếp cận vốn vay ngân hàng, vốn tự có bằng tiền của họ chiếm tỷ trọng thấp. Nguồn vốn của nông dân chính là sức lao động, một mảnh đất nhỏ và tài sản đơn giản của gia đình.
Cầm sổ đỏ thì ngân hàng nào cũng cho vay nhưng cho vay trong khuôn khổ, mỗi héc-ta đất nông nghiệp được vay tối đa 20 triệu hiện nay lãi suất 1,6% một tháng.
Một nông dân ở Cần Thơ
Một nông dân ở Cần Thơ cho biết việc vay vốn ngân hàng rất khó khăn luôn luôn phải thế chấp sổ đỏ:
“Cầm sổ đỏ thì ngân hàng nào cũng cho vay nhưng cho vay trong khuôn khổ, mỗi héc-ta đất nông nghiệp được vay tối đa 20 triệu hiện nay lãi suất 1,6% một tháng. Tùy theo hợp đồng trả lãi 3 tháng, 6 tháng, 4 ngân hàng vốn quốc gia thì đỡ hơn, ngân hàng cổ phần thì mỗi tháng mỗi đóng lãi. Nếu thiếu vốn thì phải vay hỏi bên ngoài, người nào tốt bụng lắm thì cho vay 3% một tháng như vậy là nhẹ, nhiều người cho vay cao hơn nữa mình cũng phải chịu nhưng vay ít chứ nhiều làm không đủ trả lãi.”
“Theo tôi có mấy vấn đề, các hộ nông dân của chúng ta bé quá, nhất là hộ nông dân của miền Bắc, chỉ có 3 sào đất một đầu người, một hộ nông dân như vậy được mấy mẫu đất. Muốn vay vốn phải thế chấp, có một cái sổ đỏ thì đã thế chấp rồi, bây giờ muốn vay vốn thêm thì rất khó. Tôi cũng thông cảm cho các ngân hàng, đặt địa vị mình là ngân hàng thấy rất là khó, hộ nông dân thì nhỏ, đất thì đã thế chấp rồi mà kinh doanh thì bấp bênh.
Tôi nghĩ rằng, nếu Việt Nam không cố gắng giải quyết dồn điền dồn thửa, rồi hút được một nửa hay 80% nông dân sang làm việc khác và một hộ nông dân có khoảng 30 tới 50 héc-ta, thì lúc bấy giờ sẽ bớt khó khăn hơn. Và tín dụng đối với cả hai bên sẽ dễ dàng hơn.”
Một nhà khoa học gắn bó với ao cá đầm tôm, ông Nguyễn Tử Cương Ủy viên thường trực Trung Ương Hội Nghề Cá Việt Nam, cũng ghi nhận thực tế tình trạng tiếp cận nguồn tín dụng nông thôn đầy khó khăn đối với nông dân nuôi thủy sản:
Tôi cũng thông cảm cho các ngân hàng, đặt địa vị mình là ngân hàng thấy rất là khó, hộ nông dân thì nhỏ, đất thì đã thế chấp rồi mà kinh doanh thì bấp bênh.
TS Lê Đăng Doanh
“Chúng tôi vừa có cuộc khảo sát về việc tiếp cận vốn vay tín dụng nông thôn. Hiện nay nông dân đang gặp một số khó khăn là do nợ cũ chưa trả được nên tiếp cận vốn vay mới rất khó, bởi vì các ngân hàng hiện nay đều là ngân hàng thương mại.”
Ông Nguyễn Tử Cương đề cập tới một giải pháp mà ông cho là có thể thực hiện được để người nuôi trồng thủy sản có thể tiếp tục vay vốn dù chưa trả hết nợ cũ:
“Chúng tôi đang chọn giải pháp liên kết từ người sản xuất thức ăn chăn nuôi, con giống cho đến người nuôi và nhà chế biến, chúng tôi cũng dự kiến liên kết luôn đến nhà nhập khẩu. Trên cơ sở liên kết này và thông qua điều lệ mang tính đồng quản lý để chia sẻ cả lợi ích lẫn rủi ro. Trong chuỗi liên kết như thế này, nếu một công đoạn nào đó còn đang mắc nợ, ngân hàng cũng vẫn yên tâm để cho vay vốn. Chúng tôi cho rằng đây là mô hình rất cần được nhân rộng trong thời gian tới.”
Tuy nhiên, theo ý kiến chuyên gia việc khai thông kênh tín dụng ở nông thôn sẽ không đơn giản như nội dung chính sách của chính phủ. Nông dân Việt Nam vẫn làm ăn canh tác nhỏ lẻ, các dự án tập trung chiếm tỷ lệ không đáng kể. Các ngân hàng thương mại của Việt Nam luôn dè dặt với những khoản cho vay bấp bênh, những ngân hàng có vốn nhà nước cũng không có đủ vốn để gia tăng tín dụng nông thôn, dù có ý định như vậy. Thủ tục cho vay cấp tín dụng khá phức tạp, không chỉ gây khó khăn cho nông dân mà ngay trong những trường hợp chính phủ cấp vốn cho doanh nghiệp để mua tạm trữ nông sản, việc triển khai đã luôn chậm trễ.