Một hình thức đối thoại về nhân quyền đã thực sự mở ra ở Việt Nam (phần I)Phần I: Hai luồng dư luận mới về hiện tình nhân quyền ở Việt Nam


2004-02-24
Share

Phần I: Hai luồng dư luận mới về hiện tình nhân quyền ở Việt Nam

Bấm vào đây để nghe bài bình luận này
Rightclick to download this audio

Đầu năm 2004, nhiều cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam của phía Mỹ vàmấy cuộc điều trần trước cơ cấu hành pháp của Mỹ về nhân quyền tại nước này, đã cho thấy rằng, một hình thức đối thoại vềnhân quyền đang thực sự được mở ra ở Việt Nam. Tất nhiên không phải vì vậy mà vấn đề nhân quyền tại đó có thể coi nhưđã được giải quyềt ổn thoả.

Đông Văn phân tích ý nghĩa của cuộc trao đổi ý kiến nói trên. Trong phần đầu của bài viết của ông, Đông Văn sẽ kiểm điểm hai luồng dư luận , phảnánh hai quan điểm rất khác biệt nhau, về thực trạng nhân quyền ở Việt Nam. Phần II, tiếp theo, sẽ được ông dành cho việcnhận định về nội dung của cuộc đối chiếu quan điểm giữa hai bên, mà ông đánh giá như một cuộc đối thoại đúng nghĩa của danh từ.

Related Stories - Một hình thức đối thoại về nhân quyền đã thực sự mở ra ở Việt Nam (phần II)

Vào những ngày đầu tháng 2 này, tại diễn đàn lập pháp Mỹ đã có mấy cuộcđiều trần về nhân quyền ở Việt Nam để một mặt, một số nhân vật, trong đó có thượng nghị sĩ Mỹ Sam Brownback, người đã đích thân đi Việt Nam thâu thập dữ kiện tại chỗ, tường trình về hiện trạng nhân quyền ở nước này, và mặt khác, nghecác ông Michael Young, chủ tịch Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF) và Đại sứ John Hanford, giám đốcvăn phòng Tự Do Tôn Giáo của Bộ Ngoại Giao Mỹ, phát biểu về đề tài ấy. Những thông tin mà các tiếng nói điều trần tháng 2 này đã cung cấp cho dư luận Mỹ một ánh sáng có cơ đưa hồ sơ nhân quyền ở Việt Nam lên một bước bước phát triển mới,mặc dù trên thực tế, chưa có một tiến bộ nào đáng kể đã được ghi nhận.

Tưởng cũng cần nhắc lại rằng trong hồ sơ nhân quyền này, cho đến ngày hôm nay, rất nhiều dữ kiện đã được thâu thập từ nhiều phía, nhất là từ Bộ Ngoại giao Mỹ mà bản báo cáo năm 2003 vềnhân quyền đã rất phong phú về bề rộng cũng như về bề sâu. Nhưng có lẽ những thông tin mới nhất do các cuộc điều trần tháng2-2004 đã thâu tóm được, trong một cận ảnh, những khó khăn làm cho việc cải thiện nhân quyền đang dẫm chân tại chỗ. Nóicách khác, các cuộc điều trần ấy đã vạch trần ra rằng nhân quyền ở Việt Nam đang gặp nhiều ách tắc khiến cho những tiến bộmà dư luận thế giới mong đợi chưa, nếu không phải là không thực hiện được.

Theo Đại sứ John Hanford, qua những nhận định của ông, vào ngày 10-2-2004, trước Tiểu Ban Nhân Quyền, Không Gia Tăng Vũ Khí Hạt Nhân, Chống Khủng Bố Quốc Tế, thuộc Uỷ Ban Ngoại Giao củaHạ Viện Hoa Kỳ, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn chưa chứng tỏ có thiện chí tôn trọng nhân quyền và dân quyền của người dânViệt Nam.

Trầm trọng hơn là lời chỉ trích của ông về việc Linh mục nguyễn Văn Lý đã bị giam cầm một cách bất công. Có lẽđây là lần đầu tiên mà ông John Hanford đã định một thời hạn rõ rệt và ngắn – hai tuần lễ - để áp dụng một hình thức chếtài nếu các nhà lãnh đạo ở Hà Nội không tỏ ra, bằng hành động, bắt đầu thành thực thi hành các qui phạm của luật quốc tế vềnhân quyền. Ta có thể coi như ông John Hanford đã gián tiếp gửi cho Hà Nội một tối hậu thư.

Về phần ông Michael Young,Chủ tịch Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF) đã bày tỏ sự thất vọng để lên tiếng chỉ trích chính quyền ViệtNam tiếp tục gia tăng đàn áp quyền tự do tôn giáo của người dân mặc dù năm 2001 đã ký Hiệp Định Thương Mại SongPhương với Mỹ. Theo ông Young, lời hứa của nhà cầm quyền Hà Nội trong những cuộc tiếp xúc giữa các giới chức cấp caoViệt-Mỹ đã không đi đôi với việc làm, khiến cho tình trạngnhân quyền và đặc biệt tự do tôn giáo ở Việt Nam không hề được cảithiện. Vì vậy ông Young đã không ngần ngại chính thức đề nghị Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm 2004 hãy ghi vào bản báo cáohàng năm, về tình hình tự do tôn giáo quốc tế, tên nước Việt Nam trong danh sách 11 quốc gia đáng đặc biệt quan tâm cho, và coiđó là hành động bảo vệ nhân quyền mang tầm vóc quan trọng nhất của chính phủ Hoa Kỳ.

Các quan điểm điều trần tháng 2-2004 thật ra không hoàn toàn mới lạ.Nhưng trong khung cảnh mới năm nay, chúng đã trở nên mới lạ chỉ vì chúng đã tái xác nhận một thực trạng vi phạm nhân quyềnđã kéo dài rất nhiều năm rồi. Cho nên chúng mang dáng dấp của một bản cáo trạng về một hiện tượng tái phạm không bịtrừng trị.

Để tự bào chữa trước bản cáo trạng này, nhà cầm quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã không thể làm gì hơn là chống đỡ, bằng nhiều chiến thuật. Hoặc là phủ nhận một cách trắng trợn các sự kiệnhọ bị trách cứ. Hoặc giải thích loanh quanh để cố giảm nhẹ mức độ sai trái của chúng. Hoặc im lặng không trả lời. Hoặc lạihứa như trong quá khứ sẽ sửa đổi trong tương lai.

Nói tóm lại, những chủ nhân ông của chính quyền xã hội chủ nghĩa vẫnkhông ngừng cố gắng vô hiệu hoá những yêu sách càng ngày càng bức thiết của dư luận thế giới đòi hỏi họ phải thực thi cụthể sự cam kết của họ về việc quản lý một cách nghiêm chỉnh nhân quyền và dân quyền ở Việt Nam. Hà Nội hy vọng vớithời gian sẽ tẩy xoá được ấn tượng xấu, cáo buộc họ vi phạm nhân quyền mà không cần phải thay đổi phap luật cai trị cố hữu củahọ.

Sự đối chiếu mới của hai luồng dư luận trái ngược nhau cho thấy là tìnhtrạng giằng co này khó có thể kéo dài lâu hơn nữa. Đó là thành quả tích cực mà người ta cho rằng các cuộc tiếp xúc về nhânquyền giữa hai phía Việt Mỹ, cũng như các cuộc tranh luận công khai về hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam, đã mang lại hyvọng cho việc tìm ra lối thoát cho một cuộc khủng hoảng nhân quyền dường như muốn thách đố thời gian.

Ý kiến (0)

Xem tất cả ý kiến.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Xem toàn trang