SỰ TÍCH ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ HUỲNH GIÁO CHỦ

1999-06-29
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Bài của HAI TRANG Lời Giới Thiệu: Từ hơn hai tháng qua, dư luận ở trong nước đặc biệt quan tâm đến việc các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo được hành đạo trở lại sau hai mươi bốn năm dài bị nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp quyết liệt. Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo có rất đông tín đồ tại Miền Nam, nhất là ở các tỉnh thuộc Miền Tây đồng bằng sông Cửu Long. Đạo Phật Giáo Hòa Hảo được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ khai sáng từ năm 1939, tính ra đến ngày Mười Tám tháng Năm âm lịch, tức là Thứ Năm mùng Một tháng Bảy dương lịch này là được đúng sáu mươi năm. Đây là Ngày Lễ quan trọng nhất đối với hơn hai triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở trong nước và ở ngoài nước. Nhân dịp này Đài Á Châu Tự Do trình bày một loạt bài về Đạo Phật Giáo Hòa Hảo để Quý thính giả biết rõ hơn về một tôn giáo trong bốn tôn giáo lớn của Việt Nam hiện nay. Sau đây là bài của trợ bút Đài Á Châu Tự Do Hai Trang trình bày "Sự tích Đạo Phật Giáo Hòa Hảo và Huỳnh Giáo Chủ" . Phật Giáo Hòa Hảo là một tông phái Phật Giáo do Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, đến nay được đúng 60 năm. Tuy nhiên các giới nghiên cứu Đông phương và Tây phương, kể cả các nhà nghiên cứu người Nga thuộc Liên Xô cũ, đều đồng ý rằng Phật Giáo Hòa Hảo ra đời năm 1939 đánh dấu thời kỳ phát triển rực rỡ và quảng đại nhất của một tông phái Phật Giáo có từ trăm năm trước ở miền Nam Việt Nam là Bửu Sơn Kỳ Hương. Các nhà nghiên cứu phân ra ba thời kỳ với những đặc diểm riêng. Trước hết là thời kỳ khai lập do vị Giáo Tổ là Phật Thày Tây An, từ năm 1849 đến năm 1856. Kế đến là thời kỳ củng cố, do vị kế truyền là Phật Trùm, còn gọi là Bổn Sư, từ năm 1868 đến năm 1901. Thứ ba là thời kỳ phát triển do Huỳnh Giáo chủ, từ năm 1939. Như vậy, Huỳnh Giáo chủ không lập ra một tôn giáo mới, mà chỉ tạo ra cho tín đồ Một Niềm Tin Mới, hoặc nói cách khác, một ánh sáng tín ngưỡng thích hợp với thời đại mới. Được soi sáng bởi giáo lý của Đức Phật Thích Ca, Phật Giáo Hòa Hảo tiếp nối truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương và được Huỳnh Giáo chủ khai sáng trên đất nước Việt Nam với những đặc tính thích hợp với nếp sống dân chúng trong bối cảnh xã hội và lịch sử đương thời. Giáo lý của Đức Thích Ca được Huỳnh Giáo chủ thuyết giảng bằng ngôn ngữ mộc mạc của người dân chơn chất khiến mỗi người ở bất cứ trình độ kiến thức nào cũng có thể hiểu ngay được và làm theo một cách dễ dàng. Chính vì vậy mà chỉ trong vòng một năm sau khi Huỳnh Giáo chủ mở Đạo có nửa triệu người thuộc đủ mọi giai tầng xã hội, từ người dân cày đến ông điền chủ, từ chú học sinh đến các ông thày thuốc tây y hoặc những ông bác vật (tức là kỹ sư), đã nô nức xin quy y nhập Đạo. Từ thời đó, việc Học Phật Tu Nhân để báo đền Tứ Ân đã trở thành một phong trào rộng lớn. Tứ Ân là bốn điều ơn lớn mà mỗi con người phải báo đền sao cho trọn vẹn. Bốn điều ơn lớn đó mà Đức Phật Thày Tây An chỉ rõ là: Ơn Tổ Tiên Cha Mẹ, Ơn Đất Nước, Ơn Tam Bảo, Ơn Đồng Bào và Nhân Loại. Khi thuyết giảng cho quần chúng đặt Niềm Tin Mới vào Giáo lý của Đức Phật, Huỳnh Giáo chủ đã cất bỏ cho tín đồ cái gánh nặng mê tín dị đoan có từ bao đời. Mọi nghi lễ phiền toái, vụ hình thức được loại bỏ trong nghi thức thờ phượng. Theo lời chỉ dạy của Huỳnh Giáo chủ, người tín đồ đặt trong nhà mình một bàn thờ, bên trên thờ Tam Bảo Phật - Pháp - Tăng và các Anh hùng Dân tộc, bên dưới thờ Tổ Tiên. Bàn thờ không bày hình tượng mà chỉ tôn một tấm trần màu đà --thường gọi là Trần Dà-- làm biểu tượng truyền thống Phật Giáo của người Việt Nam. Trên bàn thờ chỉ có nhang đèn, một bình nước mưa và một bình bông. Mỗi khi thờ cúng, người tín đồ chỉ thầm đọc bài kinh nguyện. Những bài nguyện do Huỳnh Giáo chủ đặt ra theo ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu và dễ nhớ là vì có vần có nhịp. Mỗi ngày, tín đồ cầu nguyện ba lần, sáng, trưa và tối. Điều rất dễ nhận biết là ở bất cứ nơi nào có tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo sinh sống, trước mỗi căn nhà của tín đồ có một bàn thờ thông thiên mộc mạc với một ngọn đèn nhỏ đốt từ tối đến khi trời sáng. Huỳnh Giáo chủ căn dặn tín đồ rằng "Đi làm ruộng (hoặc tại hãng xưởng, nơi sở làm), đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá bốn phương. Còn đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được". Khi nghiên cứu về nguồn gốc tư tưởng và đường lối hành Đạo của tín đồ Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, các học giả nước ngoài đặc biệt quan tâm tới cái nghĩa vụ "báo đền Tứ Ân" đặt ra cho người tín đồ. Biết ơn Tổ Tiên vốn đã là cái Đạo của người Việt Nam. Biết ơn Tam Bảo là cái Đạo của người tin theo giáo lý Nhà Phật. Biết ơn Đất Nước là khi làm công việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của Dân Tộc và Tổ Quốc. Nhưng còn biết ơn toàn thể Nhân quần Xã hội thì điều tâm niệm này thật sự là mới lạ, nhất là lại do Phật Thày chỉ dạy từ biên địa miền Tây của Việt Nam vào giữa thế kỷ 19 để rồi gần một trăm năm sau được Huỳnh Giáo chủ khai triển và truyền bá và được hàng triệu người hân hoan đón nhận. Chính vì lẽ đó mà nhà cầm quyền thuộc địa đã lập tức thi hành biện pháp quản chế hành chánh hòng chặn đứng việc giảng Đạo của Huỳnh Giáo chủ. Ngày 18 tháng Năm 1940, tức là chưa đầy một năm sau khi Đạo Phật Giáo Hòa Hảo được khai sáng, Phủ Thống đốc Nam Kỳ đã ra lịnh cho Công an của Pháp về tận làng Hòa Hảo cưỡng bách Huỳnh Giáo chủ phải lập tức ra khỏi nhà. Vị Giáo chủ bị công an giải về Tòa Hành chánh tỉnh Châu Đốc và sau vài giờ lại có lịnh giải về Ty Công an Sa Đéc. Rồi chỉ năm ngày sau, ngày 23 tháng Năm, Huỳnh Giáo chủ bị chỉ định nơi cư trú tại làng Nhơn Nghĩa trên bờ kinh xáng Xà No thuộc địa phận tỉnh Cần Thơ. Người được công an Pháp trao cho nhiệm vụ sắp đặt nơi cư trú cho Huỳnh Giáo chủ là ông Võ Mậu Thạnh, lúc đó đang giữ chức Hương bộ, tức là thơ ký giữ sổ bộ của làng. Hùynh Giáo chủ bị công an giải giao đến đâu là lập tức tín đồ hay biết, kéo tới hàng trăm rồi hàng ngàn người để xin phép thăm nom, săn sóc. Bởi vậy nơi cư trú được chỉ định ở làng Nhơn Nghĩa chẳng mấy chốc biến thành một trung tâm phát huy Niềm Tin Mới. Công an Pháp được báo cáo rằng Huỳnh Giáo chủ vẫn tiếp tục giảng Đạo và đã thâu nhận thêm hàng ngàn tín đồ mới từ khắp nơi đổ về. Cho nên chỉ được hai tháng, Huỳnh Giáo chủ lại bị công an Pháp giải về thành phố Cần Thơ. Hôm đó là ngày 28 tháng Bảy năm 1940, vị Giáo chủ bị đưa thẳng tới Nhà thương tỉnh để xét nghiệm. Tại đây, viên y sĩ người Pháp quản đốc bệnh viện tên là FAVOT, theo đúng chỉ thị mật của Sở Chánh trị, đã ghi vào hồ sơ bệnh lý là Huỳnh Giáo chủ có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần. Thế là Công an có lý do để đưa vị Giáo chủ cuả Phật Giáo Hòa Hảo lên Bệnh viện Chợ Quán ở Sàigòn. Nơi này là một trung tâm chuyên điều trị người có chứng bệnh tâm thần, dân chúng quen kêu là Nhà Thương Điên. Nhà cầm quyền Pháp đâu có ngờ rằng khi quyết định giữ Huỳnh Giáo chủ tại Nhà Thương Điên, Sở Công an đã giúp cho viên y sĩ điều trị của nhà thương này là ông TRẦN VĂN TÂM được gặp cơ duyên. Y sĩ Trần Văn Tâm là thày thuốc chuyên môn về bệnh tâm thần. Thoạt đầu Y sĩ Tâm tin theo lời phê của đồng nghiệp người Pháp là Y sĩ Favot, cho nên câu hỏi đầu tiên ông đặt ra cho Huỳnh Giáo chủ là một lời nói giỡn chơi, rằng: " Ở ngoài đã xé hết bao nhiêu giấy thuế thân của người ta rồi?" -- Đến đây chúng tôi xin mở một dấu ngoặc: Dưới thời Pháp cai trị, Giấy Thuế Thân là tấm bùa hộ thân của người dân bị trị, bởi vì nó vừa có giá trị như tấm thẻ Chứng Minh Nhân Dân lại vừa là giấy Chứng nhận đã làm nghĩa vụ đóng đủ mọi thứ thuế cho Nhà Nước -- Y sĩ Tâm thoạt đầu ngỡ là dùng lời bông đùa để giúp thuần hóa con bệnh. Chính ông cũng là người đã nghiên cứu sâu về triết lý Phật Giáo qua nhiều kinh sách Đông phương và Tây phương. Nhưng sau rồi càng trắc nghiệm lâu dài bằng nhiều phương pháp, người y sĩ càng thêm khâm phục sự uyên bác về giáo lý Phật Giáo và các tôn giáo khác cũng như về kiến thức tổng quát và về viễn kiến của Huỳnh Giáo chủ trên nhiều lãnh vực. Rốt cuộc chính y sĩ Trần Văn Tâm đã xin Huỳnh Giáo chủ chứng cho để ông được nhận làm một tín đồ. Người con lớn của Y sỉ Tâm là ông TRẦN KIM THIỆN sau này đã thuật lại trong một cuộc phỏng vấn có thâu băng về cơ duyên của thân phụ ông và của gia đình ông với Huỳnh Giáo chủ. Nhiều nhân viên khác của Nhà thương Chợ Quán cũng đã xin theo Đạo Phật Giáo Hòa Hảo trong thời gian gần một năm Huỳnh Giáo chủ bị giam lỏng nơi đây. Trong số các nhân viên trở thành tín đồ có người gác-dan, tức là nhân viên kiểm soát người ngoài ra vô nhà thương. Ông này đã không làm khó mà còn mở rộng cửa nhà thương để đón nhận người đồng đạo. Bởi vậy, việc giữ Huỳnh Giáo chủ ở Nhà thương Chợ Quán đã tỏ ra là có hại nhiều hơn. Cho nên Sở Công an lại được lệnh phải đưa Huỳnh Giáo chủ đi quản chế ở một địa điểm thật xa. Huỳnh Giáo chủ bị công an bốc đi khỏi Nhà thương Chợ Quán ngày 5 tháng Sáu năm 1941 và bị đưa sang tạm giam tại Trại giam Catinat của Sở Công an trong tám ngày. Các tài liệu có thể kiểm chứng được cho thấy rằng quan chức cai trị người Pháp đã rất đắn đo khi chỉ định nơi cư trú mới cho Huỳnh Giáo chủ. Thoạt đầu có đề nghị của Công an đưa Giáo chủ đi đày sang mấy hòn đảo ở cực Nam châu Phi cũng như Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Hội Thánh Cao Đài. Cuối cùng, một viên chức người Việt tòng sự tại Phủ Thống Đốc được quan chức Pháp tin cẩn là ông Võ Văn Giỏi cố gắng vận động xin được lãnh Huỳnh Giáo chủ về quản chế tại tư gia của ông ở Bặc Liêu. Điều kiện của Sở Công an đặt ra là ông Võ Văn Giỏi phải cam kết ngăn cấm không để cho Huỳnh Giáo chủ được chữa bệnh cho dân chúng, không được truyền bá giáo lý, nhất là mỗi tuần một lần đúng vào ngày Thứ Hai, Giáo chủ phải đến Ty Công an trình diện và làm tờ báo cáo. Trong hoàn cảnh bị quản chế này, Huỳnh Giáo chủ đã có bài Thơ rằng: Việc chi mà phải đi trình báo Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng Ông Đợi máy huyền cơ xoay đến mức Tính xong cuộc thế lại non Bồng Thứ Hai hừng sáng mưa tầm tã Lính đứng ngoài đường giục giã Ông Kiếp khách trần gian vay lắm nợ Để đền trọn nghĩa với non sông ... Chính trong thời gian bị quản chế ở Bạc Liêu này, Huỳnh Giáo chủ đã thâu thêm nhiều tín đồ, trong số có nhiều vị nhân sĩ học vấn cao và được dân địa phương mến mộ. Người đầu tiên xin được làm tín đồ Đạo Hòa Hảo chính là ông Võ Văn Giỏi, người được Pháp trao trách nhiệm quản chế vị Giáo chủ. Nhiều vị khác như các ông Trần Văn Nhựt hiệu là Dật Sĩ, ông Huỳnh Văn Nhiệm, ông Chung Bá Khánh, sau này đều là những tín đồ theo sát một bên Giáo chủ trong công cuộc truyền bá giáo lý Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Sở Công an Nam kỳ được báo cáo về tình hình này liền dự tính đem Huỳnh Giáo chủ đi đày sang Lào. Các cao đồ biết được dự tính này liền tìm cách gấp rút giải cứu Giáo chủ. Người lãnh trách nhiệm tổ chức việc đưa Giáo chủ đi khỏi nơi quản chế là ông LÂM THƠ CƯU, thường gọi là ông Hương chủ Cưu. Ông Hương chủ Cưu lập kế mướn một xe hơi tư nhân và rủ một người bạn của ông là một người Nhật đi cùng. Người Nhật này tên là KISHI, lúc đó đang làm ở Sở Hiến binh, cấp bực chỉ là thượng sĩ. Rước được Giáo chủ ra khỏi nơi bị quản chế, xe chạy lạc hướng xuống Tắc Vân, rồi xe lại hư. Ông Bang trưởng Triều Châu ở Tắc Vân cho mượn xe hơi riêng để chạy về Sàigòn, nhưng khi gần tới ngã ba Trung Lương thì gặp đội xe của Công an Pháp đón bắt. Người lái xe liều mạng tăng tốc độ lách tránh sang bên nhưng đường nhỏ hẹp, xe lọt xuống ruộng. Mọi người bị Pháp bắt lại giải về Sở Công an Sàigòn. Đại diện ngoại giao của Nhật được Pháp thông báo liền đến lãnh viên thượng sĩ người Nhật và nhân đó làm áp lực với Công an Pháp để giữ luôn cả Huỳnh Giáo chủ. Vậy là Giáo chủ thoát được lưới giam hãm của người Pháp lại lọt ngay vào tay Hiến binh Nhật. Hôm đó là ngày 12 tháng Mười năm 1942. Việc này đã được một nhân sĩ Phật Giáo Hòa Hảo là ông LÂM NGỌC THẠCH, con trai của ông Hương chủ Cưu thuật lại với đầy đủ chi tiết. Ông Lâm Ngọc Thạch năm nay đã ngoài 80 tuổi và hiện đang sống với con cháu tại Hoa Kỳ, vùng phụ cận thủ đô Hoa Thịnh Đốn Quý thính giả vừa nghe xong bài của trợ bút Đài Á Châu Tự Do nói về Sự tích Đạo Phật Giáo Hòa Hảo và Huỳnh Giáo chủ. Mời Quý thính giả đón nghe tiếp Bài thứ hai về tôn giáo lớn này ở Miền Nam Việt Nam. Cũng vào giờ này ngày mai Thứ ... Quý thính giả sẽ nghe Bác sĩ TRẦN NGƯƠN PHIÊU thuật lại một buổi giảng Đạo của Huỳnh Giáo chủ hồi 55 năm trước mà chính Ông đã có cơ duyên được có mặt. # ----- o -----

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang