50 Năm Bạo Chúa Lên Ngôi (bài #2)

1999-09-29
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời Giới Thiệu: nhân dịp đánh đấu 50 năm ngày Đảng Cộng Sản Trung Hoa thống trị Hoa Lục, Ban Việt Ngữ chúng tôi xin gửi đến quý thính giả loạt bài do nhà bỉnh bút Thu Phong viết, ghi nhận lại những thăng trầm của Hoa Lục trong 50 năm qua, và ảnh hưởng của đảng Cộng Sản Trung Hoa đối với Việt Nam. Nhà bỉnh bút Thu Phong là một cựu đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây là bài thứ hai trong loạt bài ông viết cho chúng tôi, mang nhan đề Những người cộng sản Việt Nam công nhiên đứng dưới lá cờ chủ nghĩa Mao-ít. Những người cộng sản Việt Nam rất thích khoe lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh của họ là sáng lập viên và đảng viên Đảng cộng sản Pháp, là cán bộ Quốc tế cộng sản và đồng thời là đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc. Họ không thấy ỏmặt trái của chiếc mề đayõ, là càng nhấn mạnh những điều đó thì lại càng làm nổi bật tính chất lệ thuộc của lãnh tụ của họ vào các đảng khác, vào các lãnh tụ khác. Sau này, khi đã thấy hớ thì họ lại hay đề cao tính độc lập của Đảng. Khi Mao Trạch Đông vừa thiết lập được nền thống trị cộng sản lên toàn lục địa Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã thực hiện một chuyến đi bí mật đến Bắc Kinh và Moskva để gặp Stalin và Mao Trạch Đông (1). Chuyến đi này được giữ bí mật tuyệt đối, nên ít người trong nước được biết (2). Tuy nhiên, qua những thiên hồi ký của nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Liên Xô, đặc biệt là của lãnh tụ cộng sản Liên Xô Nikita Khrushev, cũng như qua những lời nói úp mở của chính Hồ Chí Minh với cán bộ cao cấp Việt Nam, thì mục đích chuyến đi là để báo cáo tình hình, nhận những chỉ thị cần thiết, xin viện trợ quân sự và xin đặt quan hệ ngoại giao với hai nước anh cả và anh hai. Qua những điều truyền miệng trong giới cán bộ cao cấp của Đảng thì khi gặp nhau, cả Stalin lẫn Mao Trạch Đông đều phê phán Đảng Việt Nam chưa nắm vững đường lối giai cấp, chưa quan tâm đầy đủ việc ỏbồi dưỡngõ cho nông dân lao động là hậu bị quân to lớn nhất của Đảng trong cách mạng và chiến tranh. Mà để bồi dưỡng cho nông dân thì phải tiến hành cải cách ruộng đất trong vùng đã kiểm soát được để đưa ruộng đất cho dân cày. Hồ Chí Minh cũng đã xin chỉ thị của Stalin và Mao Trạch Đông về việc đổi tên Đảng cộng sản thành đảng lao động. Chuyến đi này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách, đường lối của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam, mở đầu cho một thời kỳ tràn ngập của chủ nghĩa Mao-ít vào Việt Nam, Lào, Cam-bốt. Nó cũng ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tình hình chiến tranh. Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, nhất là về mặt quân trang quân dụng, cố vấn chỉ huy... nên Việt Nam giành được những thắng lợi quân sự lớn, mở đầu là chiến dịch Biên giới hồi tháng 9 năm 1950. Nhưng lúc bấy giờ, chẳng ai nghĩ tới những hậu quả khủng khiếp về sau. Cũng nên nhắc qua tình hình hồi đó. Ngay trước khi cuộc chiến tranh chống Pháp bắt đầu, những người lãnh đạo cộng sản đã kịp thủ tiêu hầu hết người đứng đầu các đảng phái đối lập hoặc có thể trở thành đối lập ở những vùng họ kiểm soát. Do đó, khi chiến tranh bắt đầu, họ được rảnh tay để đối phó với quân Pháp. Hơn nữa, trước tai họa mất nước, toàn dân đã siết chặt hàng ngũ quanh những người lãnh đạo kháng chiến. Còn những người cộng sản, trong thời đầu chiến tranh, rất cần sự ủng hộ của toàn dân để vượt qua những khó khăn vô cùng to lớn, nên hồi đó đối với dân chúng họ có phần hơi gượng nhẹ. Nhờ đó, trong vùng họ kiểm soát, trong thời gian đầu chiến tranh tuy khó khăn, nhưng vẫn còn có không khí hồ hởi, phấn khởi với tinh thần gắn bó cùng nhau cứu nước. Thế nhưng, sau khi Hồ Chí Minh đi Liên Xô và Trung Quốc về, và nhất là từ sau khi Đảng Việt Nam rước các đoàn cố vấn Trung Quốc đủ loại vào Việt Nam, những người tinh ý cảm thấy ngay rằng trong chính sách của Đảng đã có một bước ngoặt lớn. Càng ngày người ta càng nói nhiều về lập trường giai cấp, về tư tưởng vô sản, về thành phần cơ bản... Rồi bắt đầu nhiều đợt rà đi soát lại lý lịch từng người theo kháng chiến, trong Đảng cũng như ngoài Đảng. Từ đó, tinh thần phấn khởi, hồ hởi mất đi, và dần dần xuất hiện một bầu không khí nghi ngờ, thậm chí kỳ thị với những người thuộc thành phần gọi là phi vô sản hay không cơ bản, phần lớn là trí thức, nhân sĩ. Rồi hàng loạt trí thức, văn nghệ sĩ, viên chức cao cấp dinh-tê (2), bỏ hàng ngũ kháng chiến trở về thành. Người ta giải thích hiện tượng đó là do các phần tử trí thức, tư sản, tiểu tư sản giao động không chịu đựng được khó khăn. Nhưng không một ai chịu trả lời câu hỏi thế thì hồi 1947-1949, khổ sở khó khăn còn gấp bội, nhưng tại sao họ lại không dinh-tê? Đến Đại hội II của Đảng hồi tháng 2 năm 1951, trong Điều lệ đã ghi rõ trên giấy trắng mực đen là Đảng lao động Việt Nam theo chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông. Như vậy là từ nay những người cộng sản Việt Nam đã công nhiên nêu rõ chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao-ít trên lá cờ của họ! Chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao-ít trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng! Và để nền tảng tư tưởng đó được xây dựng vững chắc trong trí óc, tư duy của cán bộ đảng viên, nhiều đợt chỉnh huấn theo đúng mẫu mực chỉnh phong của Mao đã được tiến hành. Cán bộ, đảng viên, binh sĩ và những người gọi là quần chúng theo kháng chiến đều phải chỉnh huấn. đều phải quen dần với những phương pháp, cũng như những từ ngữ lạ hoắc, như đả thông tư tưởng, đấu tranh tư tưởng, trị bệnh cứu người, thành khẩn bộc lộ, thực sự cầu thị, phản tỉnh, thu hoạch, kiểm thảo... Qua những đợt chỉnh huấn liên tục, con người được mài tròn như hòn bi, còn các ban bảo vệ chính trị của công an, các ban tổ chức của Đảng thì tha hồ mà tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên, nhân sĩ, trí thức... Bầu không khí chính trị càng thêm khó thở... Rồi từ đầu năm 1953, Đảng lại phóng tay phát động quần chúng tiến hành cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất! Phóng tay phát động quần chúng nghĩa là xúi giục cho quần chúng vùng lên thả cửa, mặc sức hành động cách mạng, không ai được hạn chế, ngăn cản ỏnhiệt tình cách mạngõ của quần chúng! Để làm việc đó, hàng chục ngàn cán bộ, đảng viên, binh sĩ lập thành những đội cải cách, với quyền sinh quyền sát trong tay (4) dưới sự thống lĩnh tối cao của Tổng bí thư Đảng là Trường Chinh, với sự hướng dẫn đầy kinh nghiệm của các cố vấn Trung Quốc, đã nườm nượp xông về nông thôn. Họ gạt phăng mọi tổ chức có sẵn ở địa phương (5), ba cùng, gợi khổõ, tố khổ, bắt rễ xâu chuỗi, phân định giai cấp, tra tấn, khảo của, truy tìm địa chủ gian ác, cường hào ác bá, phải tìm kiếm địa chủ cho đủ số quy định, rồi lập tòa án nhân dân, đấu tố, bắn giết, tước đoạt những kẻ đi tước đoạt(6) chia cho bần cố nông... Nông thôn Việt Nam vốn có truyền thống lá lành đùm lá rách, bỗng dưng Đảng đến xúi người nọ vạch tội người kia, chia họ ra thành giai cấp, rồi dựa vào bần cố nông, đoàn kết trung nông, cô lập phú nông, đánh đổ địa chủ(7) làm cho cả nông thôn bị xáo trộn. Những nông dân làm ăn cần cù, có kinh nghiệm, may mắn khấm khá lên thì bị đánh đổ; còn những kẻ không ham làm ăn, nói đúng hơn ham ăn mà không muốn làm, thì bỗng dưng được đề cao, được xúi giục để tố điêu, vu khống, nhờ đó mà hưởng lợi lộc, quả thực. Bỗng dưng, đạo đức truyền thống trong xã hội, làng xóm, gia đình bị đảo điên, bị lật ngược, con cái tố cha mẹ, vợ tố chồng, bà con láng giềng trả thù nhau, tố cáo lẫn nhau, gọi nhau bằng con nọ, thằng kia! Những người tham gia kháng chiến, thậm chí là cán bộ đảng viên cộng sản, bỗng chốc hóa thành phản cách mạng, việt quốc, việt cách, đơ bê (8), rồi bắn, rồi giết. Còn con cái, bà con của họ thì bị trù dập, kỳ thị không cất đầu lên nổi. Nỗi oan khuất của dân lành kêu không thấu trời! Nạn nhân đầu tiên bị tử hình của cuộc cách mạng long trời lở đất là một phụ nữ đã từng tham gia cách mạng, nuôi nấng cán bộ cộng sản cao cấp, có con là sĩ quan ỏquân đội nhân dânõ - bà Nguyễn Thị Năm ở tỉnh Thái Nguyên! Tiếp theo là hàng loạt, hàng loạt người vô tội đã ngã xuống, nâng số nạn nhân chết oan trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức lên đến trên 40 ngàn người (9)! Về sau này, trước sức ép của tình hình, Đảng cộng sản đã phải thú nhận những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chịu tiến hành sữa sai. Nhưng thật ra, sửa sai chỉ là một trò lừa bịp để xoa dịu lòng căm phẫn của dân chúng, mà người dân mỉa mai là càng sữa càng sai! Vì sửa sai làm sao được cho hàng vạn người chết oan? Sửa sai sao được khi vợ đã tố chồng, con đã tố cha, tình cảm đã sứt mẻ, tình yêu đã tan vỡ, gia đình đã ly tán? Sửa sai sao được khi ruộng đất, nhà cửa, trâu bò, dụng cụ, tiền của đã bị chia năm xẻ bảy cho biết bao người và những người này đã phá tan hoang khi nghe tin đồn phải trả lại? Một điều xấu xa là hồi đó, Đảng đã nhận là sai,thế mà bây giờ thì Đảng lại chày cối khẳng định chủ trương cải cách ruộng đất đã giành được thắng lợi lớn(10)! Trên đây, mới chỉ là màn đầu của việc những người cộng sản Việt Nam hãnh diện đứng dưới lá cờ của Bác Mao. Vào ngày mai, chúng tôi sẽ trình bày thêm nhưng tai họa mà người cộng sản Việt Nam đã gây ra cho dân tộc, khi theo chủ nghĩa Mao Ít. Thu Phong - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - Chú thích: 1. Lúc đó, Mao Trạch Đông đang ở Moskva. 2. Ở ngoài nước, lần đầu tiên chuyến đi đó được tiết lộ qua bài "Chuyện vi hành của một Chủ tịch nước ra nước ngoài" của Lê Phát, đăng trên tờ "Quê Mẹ" (Paris) từ số 139, tháng 6.1997. 3. Do chữ Pháp "rentrer" - trở về. 4. Câu nói dân gian hồi đó - nhất đội nhì trời. 5. Người ta cho rằng tổ chức cũ là phản cách mạng, chính Hồ Chí Minh đã nói với cán bộ cải cách ruộng đất: tổ chức cũ là tổ kén không được dựa vào. 6. Câu nói của Karl Marx, coi như là khẩu hiệu, mục tiêu đấu tranh của giai cấp vô sản. 7. Đường lối chung của Đảng cộng sản ở nông thôn đề ra tại hội nghị Trung ương hồi năm 1953. 8. Những chữ ỏviệt quốcõ, ỏviệt cáchõ không viết hoa, vì chính những cái gọi là tòa án nhân dân cũng không biết nghĩa những chữ đó là gì, người ta chỉ hiểu chung chung là phản động; còn đơ bê hay phòng nhì có nghĩa là mật thám. 9. Có nhiều con số khác nhau, nhưng theo người viết thì con số này đáng tin hơn cả. 10. Xem sách Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (tóm tắt), tr. 110. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1985.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang