Đức Nhận Cho ở Lại 3.000 "Người Việt Mới"

1999-11-29
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Tin chính-phủ Đức vừa chấp thuận sẽ cho xét lại tư-cách tỵ nạn của tới 3.000 người Việt-nam ở Đức được nhiều đồng-bào ta đón nhận với một niềm vui khôn tả. Thế là những đêm mất ngủ, những trằn trọc lo âu của hàng trăm nếu không muốn nói là cả ngàn gia-đình đồng-bào ta ra đi từ miền Bắc đã có thể xem là giải-quyết được phần nào theo một hướng thuận lợi khi hồ-sơ xin tỵ nạn của họ có cơ-hội được tòa án Đức xét lại một cách nhân-đạo hơn. Để hiểu rõ hơn về vấn-đề này, chúng tôi xin gửi đến Quý Vị bài viết sau đây của Tâm Việt: Trong một phiên họp rộng rãi được tổ-chức tại thành-phố Goerlitz (gần biên-giới Ba-lan và nằm trong khu-vực Dresden, Đông-Đức cũ) vào thứ Sáu 19-11 vừa qua, một quyết-định quan trọng đã được sự đồng-thuận của hầu hết các bộ-trưởng nội-vụ thuộc các tiểu-bang và khu-vực tại Cộng-hòa Liên-bang Đức có mặt. Đó là quyết-định chấp nhận 20.000 người tỵ nạn các nước cho phép họ ở lại Đức, cộng thêm 3000 người Việt-nam. Sở dĩ có chuyện cộng thêm này là vì lúc đầu cuộc họp không có ý-định đem chuyện người Việt-nam ra bàn. Nếu có người như ông Walter Zuber, Bộ-trưởng Nội-vụ bang Rheinland Pfalz thuộc đảng SPD, có cảm-tình với người tỵ nạn và nghiêng về phía chấp nhận cho một số người Việt được ở lại Đức nếu có lý-do chính-đáng thì cũng lại có những người như Tiến-sĩ Guenther Beckstein, Bộ-trưởng Nội-vụ bang Bayern, thì lại chủ-trương cứng rắn hơn. Vì vậy nên khi tin cuối cùng là người Việt có được ghi trong số những người được chấp nhận cho ở lại thì đó là một tin vui rất lớn cho hàng nghìn người Việt mà ở hải-ngoại có thói quen gọi là "người Việt Đông-Âu." Vấn-đề những người Việt này, dù gọi là "Đông-Âu" hay "mới," là một vấn-đề nhiêu khê và nhức óc không riêng đối với cộng-đồng người Việt nói chung tại Đức mà còn đối với cả chính-quyền Đức. Vì nhiều lý-do: Một là gốc gác phức-tạp của họ. Trong số 4-5 chục nghìn người này hiện có mặt ở Đức thì số lớn là người lao-động đang "lao-động hợp-tác" ở Đông-Đức thì "bức tường ô nhục" ở Béc-lin sụp đổ cách đây 10 năm. Họ đang ở trong một nước Cộng-sản đồng-minh với Hà-nội thì đùng một cái, với sự thống nhất của nước Đức họ thấy được sống trong một nước tự do. Song nếu được tự do thì ngược lại, cùng lúc họ cũng lại mất công ăn việc làm đang có ở các hãng hay cơ xưởng của Đông-Đức trước kia-dù chỉ là với một đồng lương tối-thiểu-và buộc lòng phải dựa vào quỹ xã-hội của nước Đức thống nhất. Thành một gánh nặng đối với nước Đức mới, không ít người đã quay ra xoay sở buôn bán thuốc lá lậu, thậm chí có người-một thiểu-số rất nhỏ nhưng vẫn là những "con sâu làm rầu nồi canh"-quay ra những nghề mafia, đâm chém, cướp bóc, mang tiếng cho người Việt-nam nói chung và đặc-biệt cho người Việt ở Đông-Đức cũ, nói riêng. Chính vì thế mà, vừa để đuổi bớt những thành-phần bất hảo này về nước vừa để làm nhẹ gánh nặng xã-hội của chính-quyền, chính-phủ Đức cách đây hơn 4 năm (vào ngày 21-7-1995) đã ký với Hà-nội một hiệp-định mệnh danh là "Hiệp định nhận trở lại công dân Việt Nam" theo đó thì Đức sẽ giúp Hà-nội một số tiền (lên đến 140 triệu đô-la) để Hà-nội có thể đón nhận được khoảng 40 nghìn công-dân VN về nước. Nếu chỉ có thế và những người nằm trong diện "hồi hương" này bằng lòng về thì đã không có chuyện gì khúc mắc xảy ra, và sau một số năm, theo một nhịp độ nào đó, thì tất cả những người nào bằng lòng về đã được đưa về trong trật-tự. Tuy-nhiên, mọi sự không đơn giản như vậy. Vì ngoài những thành-phần gốc "lao-động hợp-tác" nói trên, những người mà chỉ có triển-vọng "ăn bám" ở Đức vì không có công ăn việc làm đều đặn nên có thể chấp nhận về nước thì lại cũng có khoảng vài nghìn người có ăn có học đàng hoàng-đôi khi còn có học-vị rất cao như bác-sĩ, kỹ-sư, giáo-sư, phó-tiến-sĩ-là những lưu-học-sinh, nghiên-cứu-sinh được cử sang theo học hay nghiên cứu trong các ngành ở các nước Đông-Âu Cộng-sản cũ. Những người này thì có nơi như ở Tiệp-khắc cũ, nhiều anh chị em đã tham-gia vào các phong trào dân-chủ ở đó vào cuối thập niên 80 bằng cách ra báo, tổ-chức biểu tình, trực-diện đối-chất tòa đại-sứ Hà-nội, có nơi như ở Bun-ga-ri thì ra báo, dịch sách (như anh Phạm Văn Viêm đã dịch cuốn "Phát-xít" của tác-gia Zheliu Zhelev), có nơi như ở Nga (Liên-Xô cũ) thì lại tham-gia vào Đài Tiếng Nói Tự Do từ Mạc Tư Khoa (còn có tên là Đài Irina hay về sau, là Đài Nadezhda). Sau khi Đông-Đức không còn nữa, hàng trăm rồi đến hàng ngàn các anh chị em này đổ sang Đức từ các nước như Ba-lan, Tiệp-khắc (giờ là Cộng-hòa Tiệp), Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, thậm chí cả Ru-ma-ni và các nước khác nữa (như Nga, Ukraina, Georgia v.v.) xin tỵ nạn. Dù như số lớn những người này khi đã sang được đến Đức thì "lặn" song một số không nhỏ (hàng trăm, có thể đến cả ngàn người) xem đây là cơ-hội lớn để tiếp-tục sự-nghiệp tranh đấu cho dân-chủ, tự do của đất nước. Chính những anh chị em sau này đã làm rộ lên một phong trào báo chí dân-chủ (như Cánh Én, Thiện Chí, Phụ Nữ và Dân Chủ, v.v.) mà có lúc người ta tính ra là lên tới gần 100 tờ khác nhau (dù như trình độ cũng không thể nói được là đồng đều cả). Bên cạnh việc làm báo, các anh chị này còn tổ-chức hay tham-gia vào các sinh-hoạt chính-trị, hội-thảo, vào các công-tác xã-hội, tôn-giáo, từ-thiện, văn nghệ. Và dù như quan-niệm của một số trong thành-phần các anh chị em ấy chưa nhất thiết ăn khớp với những quan-niệm của số đông người Việt ở hải-ngoại, như về lá cờ hay bài quốc-ca, song họ cũng đã dứt khoát quay lưng lại với chế-độ ở trong nước và vẫn được là đứng trong hàng ngũ những thành-phần dân-chủ. Do còn những ngộ-nhận giữa những người tự gọi là "người Việt mới," và cộng-đồng được gọi là "người Việt cũ" nên các anh chị em Đông-Âu khi bị đe dọa đưa về nước đã không tranh thủ được dễ dàng cảm-tình của những người đi trước và tình-trạng của họ trở thành như trên đe dưới búa. Ở thì không ở được mà về thì chắc chắn sẽ gặp khó khăn, trù dập vì những hoạt-động dân-chủ của mình! Tỷ-lệ cho đến gần đây là chỉ có 0,3 phần trăm, nghĩa là chỉ có 3 trường-hợp trên 1000 trường-hợp, mới được chấp nhận cho ở lại tỵ nạn tại Đức. Cũng may, trong cộng-đồng người Đức lại còn có được một số tổ-chức do chính người Đức đứng ra kêu gọi, tìm cách vận-động can-thiệp cho những trường-hợp, những hồ-sơ mà họ cho là chính-đáng. Phần lớn những hồ-sơ hay trường-hợp này được họ biết đến qua những bài tường-thuật trên mặt báo về những vụ cưỡng bách hồi hương nhiều khi rất thương-tâm, thiếu nhân-đạo (như vợ chồng bị tách ly, như con cái dù nhỏ cũng không được đếm xỉa, như có người sốt sắp chết cũng bị chở lên máy bay hồi hương, như cảnh-sát đương đêm khuya vào nhà bắt đi để ngăn chặn nạn-nhân trốn v.v.), hoặc là những trường-hợp hàng xóm láng giềng, con cái học chung trường hay đồng-nghiệp làm trong cùng một sở hãng nên họ can-thiệp, giúp đỡ vì tình bạn hay thuần-túy nhân-đạo. Từ tháng 12 năm ngoái, khi được tin dồn dập về những trường-hợp cưỡng bách hồi hương thật thê thảm (thậm chí đã dẫn đến một vài trường-hợp tự-vẫn), Ủy-ban Liên-kết thuộc Hội-nghị Liên-kết Người Việt Tự do đã âm thầm cộng-tác với một vài tổ-chức của người Đức, chủ-yếu là với tổ-chức mang tên Schutzgemeinschaft fuer Menschenrechte, Humanitaet und Toleranz, tức Hội Bảo vệ Nhân-quyền, Nhân-đạo và Bao dung, của Luật-sư Heinz Kamm mà trụ-sở ở Nurenberg, để lên tiếng với chính-quyền liên-bang Đức, với chính-quyền các tiểu-bang (nhất là tiểu-bang Bayern, nơi mà cảnh-sát dùng những biện-pháp nhiều lúc rất mạnh tay) và với báo chí, truyền thanh, truyền hình Đức để đánh động lương-tâm của quần-chúng Đức đối với vấn-đề này. Và kết-quả sơ-khởi đáng mừng chính là quyết-định ngày 19-11 ở Goerlitz vừa qua! Từ 3 phần ngàn được chấp thuận cho ở lại tỵ nạn tại Đức, quyết định hôm rồi sẽ cho phép gần 10 phần trăm trên số 40.000 người được ở lại, nghĩa là gấp 30 lần tỷ-lệ trước đây. Đây phải được xem là một thắng lợi rất lớn của những tổ-chức như của ông Kamm tại Đức và sự can-thiệp của Hội-nghị Liên-kết xem ra đã mang lại kết-quả cụ-thể! Theo quyết-định ngày 19-11-99, thì những người tỵ nạn cùng gia-đình mà trước kia bị từ chối sẽ "được hưởng quyền cư trú nếu họ đến Đức trước tháng 7-1993" còn người tỵ nạn độc-thân, không có gia-đình cũng sẽ được ở lại nếu họ đến Đức trước ngày mồng 1 tháng 1-1990, có công ăn việc làm và không còn là một gánh nặng xã-hội. Theo một vài sự ước-lượng thì con số 3000 người được phép ở lại có thể sẽ lên cao hơn vì có những trường-hợp người được ở lại sẽ kéo theo gia-đình và như vậy, con số thực-tế sẽ được cứu có thể lên đến 4000 người hay hơn nữa.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang