Thế giới tuần qua (Aug. 16, 2000)

2000-08-15
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Thời sự Á châu tuần qua có để ý tới hai biến cố báo hiệu việc chấm dứt chế độ nhà nước bao cấp tại Hoa lục và Việt Nam. Cùng với việc các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam không được tuyển thêm nhân viên, Bắc Kinh cũng chuẩn bị luật lệ cho các cơ quan nhà nước được sa thải công nhân viên không đủ khả năng. Trong khi đó, tin tức thời sự tuần qua còn quan tâm tới một số sự việc khác tại Nhật như vụ Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất và chính quyền Nhật tăng cường quan sát tình hình an ninh trên biển tại eo Malacca dưới Đông Nam Á. Do nhiều cây bút phụ trách với phần biên tập của Thành Chung, mục Thời sự Thế giới Tuần qua sẽ điểm lại các biến cố trên... Trong các nước xã hội chủ nghĩa, đảng và nhà nước thường đề cao công bằng xã hội và khả năng quản lý khoa học của bộ máy nhà nước nhờ đó công nhân viên chức nhà nước được bảo đảm công ăn việc làm đến mãn đời, và mọi yêu cầu về phúc lợi của họ đều được nhà nước chu cấp đầy đủ. Hậu quả của quan niệm này là bộ máy sản xuất của nhà nước ngày càng lụn bại trong chức năng sản xuất và kinh tế suy sụp dần vì chế độ bao cấp. Chính là vì nguyên nhân cơ bản trên mà Trung Quốc rồi Việt Nam đã nối tiếp nhau tiến hành việc cải tổ cơ chế kinh tế, và từ bỏ dần cơ chế bao cấp của xã hội chủ nghĩa. Nhưng, từ quyết định tới khi thi hành, người ta phải trải một thời gian khá lâu. Như hơn 20 năm sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành việc cải cách kinh tế, Hôm Thứ Hai, Nhân dân Nhật báo của Bắc Kinh mới loan tin, rằng đảng và nhà nước vừa cùng ban hành một quyết định thúc đẩy bộ máy nhà nước kiện toàn quy chế công vụ và cho phép sa thải công nhân viên kém khả năng. Quyết định có vẻ thuần túy hành chánh này thực ra đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong tư duy của giới lãnh đạo. Họ đã giác ngộ được một sự thật, là đảng và nhà nước không thể bao biện giải quyết mọi công việc của xã hội, và rằng người ta phải có sự phân quyền trong xã hội. Nhà nước chỉ thể là cơ chế phụ trách việc cai trị chứ không thể đồng thời là bộ phận tuyển dụng mọi thành phần lao động trong xã hội. Các doanh nghiệp nhà nước cũng vậy, nếu có lập ra thì cũng do mục tiêu sản xuất chứ không để tuyển người, khiến công quỹ hao hụt, cơ sở lỗ lã mà sau cùng mục tiêu phát triển kinh tế cũng chẳng đạt. Tại Hoa lục, người ta thường gọi chế độ bao cấp này là "bát cơm bằng sắt" do nhà nước bảo đảm cho toàn thể công nhân viên. Tuần qua, Bắc Kinh đã có quyết định hủy bỏ luôn chế độ đó, để tiến dần ra kinh tế thị trường. Những công nhân viên chức bị sa thải được trợ cấp một ngân khoản tương đương với 30 đô la một tháng và được trợ giúp để tìm việc khác thích hợp hơn. Tại Việt Nam, thời sự tuần qua cũng chú ý tới một quyết định tương tự. Chính quyền Hà Nội vừa thông báo là số doanh nghiệp nhà nước từ 5.740 cơ sở sẽ được cắt giảm khoản một nửa trong chương trình cải cách doanh nghiệp, và 20 vạn công nhân viên bị sa thải, khiến cho nhu cầu tái đào tạo để tìm việc làm mới cho họ có thể lên tới 134 triệu đô la. Sau chín năm chuyển động, đây là lần đầu mà Hà Nội có quyết định có vẻ dứt khoát một chút nhằm chấm dứt chế độ bao cấp đó. Nhưng, đáng chú ý hơn nữa là chính quyền Việt Nam cũng vừa quyết định cấm các doanh nghiệp nhà nước tuyển dụng thêm người. Đây là quyết định sáng suốt, dù có vẻ hơi ngược đời khi Việt Nam đang bị nạn thất nghiệp đe dọa trầm trọng, có thể lên tới 10% dân số lao động thành thị. Lý do không cho tuyển thêm người vì tới hai phần ba các doanh nghiệp nhà nước đều hoặc bị lỗ không lời, và càng tuyển thêm người thì gánh nặng chi phí lương bổng và xã hội càng tăng mà sản xuất lại không tăng. Trong dịp này, người ta mới chú ý tới việc tư doanh có khả năng tạo ra nhiều việc làm hơn, với tỷ lệ vốn đầu tư cho mỗi việc mới lại ít hơn quốc doanh, nên khuyến khích tư doanh phát triển mới là giải pháp sáng suốt, nếu người ta muốn giải quyết vấn đề thất nghiệp. Dù chậm còn hơn, những quyết định nói trên của Hoa lục và Việt Nam đều được Á châu hết sức chú ý. Cũng liên hệ tới loại tin tức vừa kinh tế vừa chính trị, tuần qua, việc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản quyết định tăng lãi suất từ 0,15 lên 0,25% đã khiến các xứ Á châu theo dõi rất sát, dù là dư luận có dự đoán việc đó từ tháng trước. Lý do khiến các nước quan tâm là kinh tế Nhật vẫn còn suy yếu và thị trường Nhật lại là đầu máy tăng trưởng đáng kể cho kinh tế toàn khu vực. Khi Nhật nâng lãi suất, hậu quả trước mắt có thể là làm sinh hoạt kinh tế Nhật thêm trì trệ, và điều đó gây bất lợi cho các nước Á châu. Nhưng, việc nâng lãi suất còn đáng chú ý ở sự việc toàn bộ nội các và chính giới Nhật lẫn Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và đa số các kinh tế gia thế giới đều coi là một quyết định bất lợi cho chính nước Nhật. Từ 10 năm nay, kinh tế Nhật bị suy thoái và để kích thích tiêu thụ lẫn sản xuất, lãi suất ngân hàng tại Nhật Bản được liên tục cắt giảm. Nếu giảm trừ tác động lạm phát thì lãi suất thực tế trở thành số không suốt 18 tháng vừa qua. Từ vài tháng nay, sinh hoạt kinh tế Nhật chớm có hy vọng phục hồi, dù còn mong manh, và điều đó cũng đủ cho Ngân hàng Trung ương quyết định nâng lãi suất. Lý do của họ là nếu giữ lãi suất ở số không, các ngân hàng không có lời và việc cho vay chẳng có tiêu chuẩn gạn lọc cho lành mạnh. Nhưng chính phủ Nhật và các định chế quốc tế đều e rằng, dù lãi suất chỉ tăng có 0,15%, quyết định này cũng đe dọa sự phục hồi kinh tế. Cũng cần nói là từ năm 1994, theo trào lưu chung của nhiều xứ tân tiến, Ngân hàng Trung ương Nhật được luật lệ cho toàn quyền độc lập trong chánh sách tín dụng và tiền tệ, lý do là để tránh việc chính phủ gây ảnh hưởng vào chánh sách tiền tệ cho mục tiêu chính trị nhất thời, và gây ra tác hại lâu dài cho kinh tế quốc dân. Nếu tin lãi suất Nhật gia tăng chỉ khiến giới chính trị và kinh tế quan tâm ở châu Á, thì một tin khác cũng đáng được toàn vùng theo dõi. Đó là việc Tokyo vừa quyết định trang bị thêm hai máy bay có khả năng cất cánh từ Nhật bay xuống vùng Đông Nam Á và trở về mà không cần tiếp liệu. Theo hệ thống tin tức Asahi của Nhật, hai phi cơ này sẽ được trang bị những khí cụ thám báo tối tân nhất để theo dõi sự chuyển vận tầu bè nơi eo biển Malacca. Câu hỏi ở đây là vì sao việc đó của Nhật lại được các nước để ý? Câu trả lời là eo Malacca nối liền ba nước Indonesia, Malaysia và Singapore cũng nằm trên trục chuyển vận hàng hóa ra vào Nhật Bản, và đây lại là nơi thiếu an ninh nhất, với nạn hải tặc xảy ra nhiều nhất thế giới. Theo bộ Giao thông Nhật, từ 11 năm qua, thương thuyền Nhật bị hải tặc tấn công 141 lần, thì gần 100 lần là tại vùng biển này. Từ đầu năm nay, Nhật bản đã đồng ý cùng một số quốc gia Á châu, trong đó có Trung Quốc, tham gia kế hoạch phòng ngừa hải tặc tại Đông Nam Á. Từ đó, Công an Biên phòng Nhật được gửi các tàu tuần duyên tới eo biển Malacca để góp phần canh phòng cùng các nước kia. Nhưng, với quyết định trang bị phi cơ thám báo bay xa mà khỏi cần hạ cánh tại một căn cứ ở nước ngoài, Nhật Bản đang thực sự thay đổi quan niệm phòng thủ của mình theo chiều hướng tích cực hơn, chủ động hơn và quốc tế hơn. Từ nay, Nhật có thể lặng lẽ và kín đáo theo dõi việc di chuyển hàng hải và cả hải quân của các xứ như Trung Quốc hay Việt Nam và các nước có tàu bè qua lại eo Malacca và ngoài Đông Hải. Các nước Á châu có thể yên tâm hơn với việc Nhật Bản tích cực góp phần và góp tiền vào việc chống hải tặc, nhưng một vài xứ chưa chắc đã yên tâm khi Nhật cựa mình ra khỏi quan niệm phòng thủ tiêu cực ngày xưa, để khẳng định tư thế đại cường ở trong vùng. E ngại nhất có thể là Trung Quốc, vốn đang có nhiều toan tính ngoài biển Đông, và chẳng muốn là mọi chuyển động quân sự của mình lại lọt vào con mắt thần của phi cơ thám báo Nhật. Ngược lại, ngay tại eo biển Đài Loan, việc Trung Quốc tập trận giả với 10 vạn quân để uy hiếp Đài Loan vào tuần trước cũng có thể gây cảm giác bất an cho Nhật Bản, và vụ hải tặc ngoài eo biển Malacca có thể là một lý cớ rất đẹp cho chính quyền Tokyo. Dù sao, đối với các nước trong vùng, việc võ khí và quân cụ Nhật Bản tái xuất hiện tại Đông Nam Á chưa chắc đã là một điều hoàn toàn bất lợi. Sở dĩ như vậy là ngoài Nhật Bản, một quốc gia hải đảo khác là Indonesia có vị trí địa dư nằm ngang eo biển Malacca đang nổi danh đó lại không có khả năng phòng vệ ngoài biển. Những biến động xã hội, tôn giáo và sắc tộc tại Indonesia khiến dư luận Á châu nói tới nguy cơ phân hóa của xứ này. Lúc đó Á châu mới giật mình phát giác là qua 32 năm cầm quyền của chế độ Suharto, xứ này không chú trọng tới việc bảo vệ an ninh trên biển nối liền các đảo. Với chừng 17.000 đảo trải ngang 4.000 cây số từ Đông sang Tây, Indonesia không có hải quân đủ mạnh để duy trì, dù chỉ là tối thiểu, trật tự ở ngoài khơi, cho sự phân hóa của xứ này càng dễ đưa tới nạn khủng bố hoặc tống tiền các thương thuyền qua lại vùng biển này. Việc phiến quân Abu Sayyaf tại Philippines đột nhập một khu nghỉ mát Malaysia để bắt con tin đem về đảo Jolo hôm 23 tháng Tư vừa qua có thể là một nhắc nhở cho các nước lân bang về những gì có thể xảy ra ngoài biển Đông Nam Á, với cường độ tàn khốc hơn, nếu như xứ Indonesia bị tan rã....

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang