Tài trợ phát triển cho Việt Nam

2000-12-11
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Tuần này các nhà viện trợ cho Việt Nam tại hội họp để thảo luận về kết qủa viện trợ năm qua và quyết định về ngân khoản và mục tiêu viện trợ cho năm tới. Như mọi năm, Diễn đàn Kinh tế kỳ này xin lại nói về vấn đề tài trợ công cuộc phát triển tại Việt Nam. Quả thật, đây là một hậu quả, do sự thiếu quyết tâm cải cách của chính quyền xứ này. Nguyễn An Phú có bài nhận định sau đây về vấn đề này... Như mọi năm, tổ chức quốc tế có nhiệm vụ điều phối các nguồn viện trợ cho Việt Nam qua bộ phận gọi là ỘNhóm Tư vấn của Ngân hàng Thế giớiỢ lại sửa soạn Hội nghị quy tụ các tổ chức và đại diện chính phủ cấp viện. Năm nay, hội nghị các nhà viện trợ sẽ được triệu tập vào hai ngày 14 và 15 tới đây, vào dịp này, Ngân hàng Thế giới lại công bố một bản báo cáo về tình hình kinh tế và triển vọng phát triển xứ này, với lời khuyến cáo hầu như lập đi lập lại mỗi năm. Tuy nhiên, năm nay là năm bản lề trước khi đảng Cộng sản Việt Nam triệu tập Đại hội toàn đảng, khóa thứ Chín, và chuẩn bị đưa Việt Nam vào thế kỷ 21, với cái gọi là Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội cho 10 năm tới. Vì vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu về các vấn đề của công cuộc tài trợ phát triển cho Việt Nam. Người ta hiểu là muốn phát triển thì bất cứ một đơn vị kinh doanh, kinh tế hay quốc gia nào cũng đều phải có tài nguyên đầu tư. Việt Nam không ra khỏi cái lẽ thường hằng này. Muốn đầu tư, người ta phải, hoặc tìm ra nguồn tư bản đó từ dân chúng, gọi là đầu tư của khu vực tư doanh, hoặc phải do chính phủ trích xuất tài nguyên ngân sách, gọi là đầu tư của khu vực công, hoặc phải huy động đầu tư của tư doanh xứ khác, gọi là đầu tư của nước ngoài. Sau cùng, người ta có thể xin viện trợ, là các khoản cho vay nhẹ lãi, hoặc là tặng dữ, tức là cho không, khỏi bồi hoàn. Hội nghị của Nhóm Tư Vấn triệu tập tuần này chỉ trao đổi về nguồn tài trợ thứ tư đó, từ ít năm nay, được các nhà viện trợ quyết định ở khoảng hơn hai tỷ đô la một năm, mà Việt Nam chỉ dùng được có một nửa. Chính quyền Việt Nam dự tính một cách lạc quan, là đạt mức tăng trưởng cao, để nhân gấp đôi lợi tức bình quân một đầu người trong 10 năm tới. Muốn vậy, trung bình mỗi năm, Việt Nam phải đạt tốc độ tăng trưởng là 7%. Với trình độ kinh tế và kỹ thuật hiện nay, muốn đạt mức tăng trưởng đó, hàng năm Việt Nam phải đầu tư một ngân khoản ít nhất cao gấp bốn lần, tức là đầu tư chừng 30% tổng sản lượng nội địa GDP. Nói cụ thể, nếu bình quân một người sản xuất được suốt năm chừng 330 đô la, thì muốn lợi tức tăng được 7% thì phải nhịn ăn để đầu tư ít ra 100 đô la. Vì mức lợi tức quá thấp hiện nay, người ta khó huy động được nguồn tài trợ phát triển đó nên phải nghĩ tới nguồn vốn từ nước ngoài... Đó là lý do đầu tiên, nhưng không duy nhất, khiến Việt Nam phải mở cửa với các nước khác. Những lý do kia là chỉ mở cửa thì mới học được kỹ thuật hay công nghệ của thế giới bên ngoài, mà đã mở cửa thì phải chấp nhận cạnh tranh. Sở dĩ Việt Nam gặp khó khăn là vì chính quyền không chấp nhận cạnh tranh, từ kinh doanh kinh tế cho tới chính trị, và sự sợ hãi nhuốm mùi lạc hậu này làm Việt Nam tiếp tục lẽo đẽo đi sau các nước khác. Cho nên, từ nhiều năm nay, năm nào lãnh đạo Việt Nam cũng được thế giới khuyên nhủ dỗ dành như con trẻ, là nên mở cửa, nên cải cách, nên đổi mới nhiều hơn nữa thì mới khá được. Nếu không thì chính dân Việt Nam sẽ thành nạn nhân. Tuần qua, bản phúc trình hỗn hợp của ba tổ chức viện trợ là Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Á châu và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc UNDP đã nhận xét về vấn đề đó như sau. Kinh tế Việt Nam có vẻ như buồm thuận gió 18 tháng trước, vì xuất khẩu tăng 25% và nhiều nguồn vốn nước ngoài đang tìm cơ hội đầu tư vào xứ này. Giờ đây, tình hình lại khác hẳn. Hiệu ứng khủng hoảng Đông Á trong các năm 1997-1998 khiến xứ này mất cả cơ hội xuất cảng lẫn nguồn đầu tư nước ngoài, ước lượng tổng cộng cỡ ba tỷ đô la, tương đương với 12% của tổng sản lượng GDP. Sự hao hụt đó được bản báo cáo ví von là Ộcú đá vào bụngỢ làm chậm hẳn tốc độ phát triển kinh tế xứ này. Cú đá như trời giáng đó lại xảy ra khi kinh tế bắt đầu bị khựng từ cuối năm 1996, do nhà cầm quyền trì hoãn nhịp độ cải cách kinh tế, chưa kể tới thiên tai hạn hán và lũ lụt hầu như xảy ra mỗi năm. Theo phúc trình đó thì tình hình kinh tế đủ nghiêm trọng để đe dọa và đảo ngược thành quả xóa đói giảm nghèo. Việt Nam còn hy vọng tránh được nguy cơ đó, nếu đẩy mạnh nỗ lực cải cách về cả chính sách lẫn chương trình và thay đổi phương thức huy động tài nguyên phát triển từ cộng đồng quốc tế. Có ba yêu cầu của công cuộc cải cách đã được Ngân hàng Thế giới đề ra trong bản báo cáo. Đó là thứ nhất, chính quyền phải thấy rằng nguồn đầu tư sẽ khan hiếm hơn xưa, nên phải biết sử dụng từng đồng đầu tư với hiệu suất cao hơn. Thứ hai, phải hoạch định lại chính sách để huy động vốn dễ dàng hơn, từ vốn trong nước tới bên ngoài, nhất là vốn từ khu vực kinh tế tư doanh. Thứ ba, vì phải dự trù đà tăng trưởng thấp hơn, Việt Nam cần chú trọng nhiều hơn, về cả tài nguyên lẫn chính sách, tới thành phần nghèo khốn của xã hội. Các tổ chức viện trợ quốc tế có mục tiêu giúp các nước đang phát triển nên thường có ngôn ngữ ngoại giao vì không muốn làm mích lòng các chính quyền ít hiểu biết mà nhiều mặc cảm. Xuyên qua khuyến cáo dung dị như vậy, ta đọc thấy nhiều lời cảnh báo đáng lo. Như Việt Nam là xứ rất nghèo, vậy mà trong đó, có tới 37% dân số toàn quốc, nghĩa là 35 triệu người, còn sống dưới mức nghèo khốn, mức tối thiểu sinh tồn. Chừng 60% dân số lao động, là 25 triệu người, hiện đang bị thất nghiệp hoặc bị khiếm dụng, nghĩa là thất nghiệp bán thời. Nạn lao động dư dôi, tức là làm chưa hết sức vì không có việc làm, còn đe dọa thành phần trẻ, khoảng một triệu 300 ngàn người, hàng năm đến tuổi lao động mà tìm việc không ra. Muốn xóa đói giảm nghèo và tạo ra công ăn việc làm cho dân chúng, thì phải giải phóng kinh tế tư doanh khỏi chế độ quản lý lạc hậu của nhà nước. Quy luật cơ bản ở đây là dân chúng chứ không phải nhà nước mới sản xuất ra của cải vật chất. Mà muốn giải phóng tiềm năng sản xuất của người dân thì nhà nước phải thu hẹp sự can thiệp thô bạo và vô lối của mình, cụ thể là tư nhân hóa khu vực kinh tế quốc doanh, giản lược hóa và minh bạch hóa hệ thống luật lệ hành chánh và tập trung vào việc bảo đảm một môi trường kinh doanh tự do cho cả tư doanh trong nước lẫn quốc tế. Một trong sáu hướng giải quyết, và là hướng thứ nhất, quan trọng nhất, mà các nhà viện trợ sẽ đề nghị với Việt Nam vào tuần tới chính là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi. Cụ thể là bảo đảm cho tư doanh điều kiện làm ăn bình đẳng với khu vực quốc doanh, và từ bỏ chủ trương thoái hóa là cho khu vực quốc doanh này vai trò chủ đạo, như Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội và Nghị quyết sắp tới của Đại hội Chín sẽ lại đề ra... Cũng trong dịp các nhà viện trợ hội họp tới đây, Việt Nam sẽ được nhắc nhở một sự thật mà lãnh đạo các xứ khác đều biết từ lâu. Đó là viện trợ, từ loại chính thức và song phương của một quốc gia cho một quốc gia mà ta gọi tắt là ODA, tới viện trợ đa phương của các tổ chức quốc tế, chỉ là phần rất nhỏ, và càng ngày càng ít, của nguồn tài trợ phát triển cho các nước nghèo. Nguồn tài trợ cao gấp mấy chục lần tổng số viện trợ của quốc tế chính là đầu tư của tư doanh, quốc nội lẫn quốc tế. Nhưng nguồn tài trợ này đòi hỏi cơ sở kinh doanh bình đẳng theo quy luật thị trường. Từ nhiều năm nay, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sút giảm một nửa mỗi năm, và năm qua cũng chẳng khả quan hơn, nếu có kịp thời phê duyệt và ký kết hợp đồng liên doanh về khí đốt, chỉ vì môi trường kinh doanh tồi tệ của xứ này không được cải tiến dù được khuyến cáo nhiều lần. Trong thời gian tới, nguồn đầu tư đó còn khan hiếm hơn vì Trung Quốc mà gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO thì sẽ là thị trường hấp dẫn hơn, và vì các nước trong khu vực đều bị biến động tài chánh nên sẽ ưu tiên cải thiện môi trường để thu hút đầu tư nước ngoài. Đã vậy, hàng năm, chính quyền Hà Nội vẫn kèo nài xin thêm viện trợ mà chưa bao giờ dùng hết vì chậm lụt trong thụ tục tiến hành các chương trình và dự án để kịp xin giải ngân. Tổng kết lại, vấn đề của tài trợ phát triển tại Việt Nam nằm ngay trong hệ thống quản lý kinh tế và lãnh đạo chính trị của xứ này./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang