Chính sách Đông Á của Hoa Kỳ


2001.06.18
Share on WhatsApp
Share on WhatsApp

Lời giới thiệu: Sau khi được Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm cách đây hơn một tháng, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Đặc trách Đông Á và Á châu Thái bình dương của Mỹ là ông James Kelly đã trải gần một tháng đi thăm các nước Đông Á, kể cả tham dự Hội nghị cấp cao của Điễn đàn An ninh cấp vùng của ASEAN tại Hà Nội. Tuần qua, ông Kelly điều trần trước hai Tiểu ban của Hạ viện Mỹ về chính sách ngoại giao Đông Á mà chính quyền dự trù thực hiện. Diễn đàn Kinh tế kỳ này xin phân tách những điểm then chốt của chính sách đó... Đối với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Đông Á và Á châu Thái bình dương là một khu vực chiến lược vì những triển vọng kinh tế lẫn những thách đố về an ninh. Năm qua, Mỹ mua bán với các nước trong khu vực tổng cộng 500 tỷ đô la, lớn hơn một phần ba kim ngạch ngoại thương của Mỹ, và chỉ thua số giao dịch của Mỹ với hai láng giềng là Canada và Mexico. Vùng địa dư chiến lược này đang có nhiều thay đổi tích cực, nhưng cũng có một số vấn đề mà Mỹ phải quan tâm đối phó. Nói chung, tình hình kinh tế của khu vực có khả quan hơn kể từ cuộc khủng hoảng năm 1997-1998, chủ yếu là nhờ Hoa Kỳ đã là thị trường nhập cảng lớn cho các nước. Nhưng, do nạn trì chậm của kinh tế Mỹ, các nước trong khu vực tất nhiên bị ảnh hưởng và nhiều nước sẽ bị nặng hơn vì chưa dứt khoát tiến hành đổi mới. Về mặt an ninh và chính trị, tình hình Đông Á và Á châu Thái bình dương cũng có nhiều tiến bộ khả quan, với chiều hướng dân chủ hóa đang được tăng cường tại Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Philippines, Indonesia và cả Mông Cổ. Trong khu vực, Mỹ có năm đồng minh đáng kể là Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc Đại Lợi, Thái Lan và Philippines, và có quan hệ tốt đẹp với Singapore. Nhưng, sự suy sụp kinh tế và cả những vấn đề chính trị bên trong một số quốc gia chưa dân chủ hóa cũng đặt ra nhiều thách đố cho khu vực. Về đại thể, Hoa Kỳ coi là đồng minh hay thân hữu những nước cùng chia sẻ một số giá trị tinh thần, như niềm tin vào quy tắc dân chủ, vào kinh tế tự do, pháp quyền của nhà nước và nhân quyền của người dân. Vì là một khu vực quá phân tán về địa dư lẫn văn hóa và kinh tế, Đông Á và Á châu Thái bình dương hiện chưa có ý thức căn thuộc vào một quần thể hợp nhất như các nước Âu châu, và đây là một vấn đề. Nơi đây, các nước có nhiều dị biệt và chưa có những động lực đồng quy để vượt thắng sức ly tâm và ý thức rằng mình ở trong một tập hợp phải cùng chia sẻ cả sự thịnh vượng lẫn nhu cầu ổn định. Cho tới nay, khu vực này mới chỉ có hai cơ chế phối hợp là Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN, quy tụ 10 nước hội viên, và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế cấp vùng APEC. Cả hai đều không có thẩm quyền giải quyết các vấn đề an ninh trong vùng. Diễn đàn An ninh cấp vùng của ASEAN tức là Asean Regional Forum thì mới chỉ là diễn đàn, chứ chưa có khả năng điều hợp chính sách và hành động. Trong khi đó, khu vực này lại có một số vấn đề cần khai thông. Tại Đông Bắc Á, thì ngoài Hoa Kỳ, ba nước kia là Nga, Trung Quốc và Nhật Bản đang gặp nhiều thách đố và phải cải tổ. Ngay tại đó, tình hình bán đảo Triều Tiên cũng có thể thay đổi vì quan hệ giữa Nam và Bắc Hàn. Tại Đông Nam Á, Indonesia đang gặp cơn sốt vỡ da trên đường dân chủ hóa và hết đảm nhiệm vai trò chủ đạo cho ASEAN. Mà, sau khi nhận thêm ba hội viên mới là Miến Điện, Lào và Cămbốt, tổ chức này đang mất khả năng tập trung giải quyết các vấn đề chính. Trong khi đó, an ninh trên vùng Đông Hải và eo biển Đài Loan cũng có những mầm bất ổn đáng quan ngại. Trước những thay đổi như vậy trong khu vực, Hoa Kỳ cho rằng sự hiện diện cả ngoại giao lẫn quân sự của Mỹ là yếu tố ổn định. Và sự ổn định này là điều phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ. Vì lý do đó, Mỹ cần giữ vị trí quân bình cho toàn vùng và ai trò bảo an cho các đồng minh. Cũng vì mục tiêu đó, Mỹ đang phải duy trì gần 10 vạn binh lính trong khu vực, phân nửa tại Nhật và 40% tại Nam Hàn. Hoa Kỳ coi Nhật là đồng minh chiến lược và muốn tăng cường quan hệ về kinh tế lẫn an ninh dựa trên những giá trị tinh thần mà hai nước cùng chia sẻ. Hoa Kỳ cũng coi Úc Đại Lợi là đồng minh chiến lược và lâu đời, vì hai bên đã hiện diện trên cùng chiến tuyến trong mọi cuộc chiến của thế kỷ 20 và cùng chia sẻ những quan niệm căn bản về chính trị. Tại khu vực này, mối quan hệ của Hoa Kỳ với Trung Quốc là yếu tố chi phối an ninh toàn vùng. Hoa Kỳ giao hảo với quốc gia này vì mục tiêu thiết thực về quyền lợi, trong ý hướng củng cố mối quan tâm của đôi bên là hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho toàn vùng. Những vấn đề vừa xảy ra giữa hai nước là cơ hội cho thấy đôi bên phải vượt khỏi những ngộ nhận, thông tin sai lạc và cả sự ngờ vực lẫn nhau. Mỹ không coi Trung Quốc là kẻ thù mà là đối tác trong một số lãnh vực và đối thủ cạnh tranh trên một số địa hạt khác. Thí dụ như là đối tác trong việc thúc đẩy hòa bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, ngăn ngừa phổ biến ma túy, khuếch trương mậu dịch, bảo vệ môi sinh, diệt trừ SIDA, v.v... Nhưng, quan hệ giữa hai nước cũng có vấn đề, thí dụ như Đài Loan, nạn vi phạm nhân quyền, vấn đề tự do tư tưởng và tôn giáo, hoặc việc giao bán bừa phứa các loại võ khí tàn sát. Đối với những vấn đề này, Mỹ sẽ nói thẳng và rõ ràng. Nếu Bắc Kinh coi nhẹ lời cam kết song phương hay quốc tế của mình, thì Mỹ sẽ dùng mọi giải pháp để thuyết phục lãnh đạo xứ này tiến tới những chọn lựa tích cực hơn. Hoa Kỳ muốn đối thoại với lãnh đạo hiện hành và cả thế hệ tương lai về mối quan hệ đó. Về kinh tế, luồng giao dịch giữa hai nước là yếu tố thăng tiến kinh tế và xã hội Trung Quốc. Nếu Mỹ có bán sang Hoa Lục được 16 tỷ đô la hàng hóa và mua của xứ này tới 100 tỷ, tức là bị nhập siêu đến 84 tỷ, thì đó vẫn có lợi, lý do là việc giao dịch này khuyến khích tinh thần tự do. Chính là tự do kinh tế đang đem lại nhiều thay đổi tích cực hơn trong xã hội Hoa Lục vì đưa tới sự quan tâm đến điều kiện lao động, trình độ quản lý kinh doanh và cả sự ưu lo đến các vấn đề môi sinh. Riêng về hồ sơ Đài Loan, Hoa Kỳ nêu rõ chủ trương của mình, là mâu thuẫn Bắc Kinh - Đài Bắc nên được giải quyết một cách hòa bình, và như vậy, phải chuyển dần từ tình trạng đối đầu quân sự sang đối thoại. Muốn vậy, hai bên phải tái nhóm hội nghị hiệp thương, phải tăng cường hợp tác về kinh tế và nhất là phải hiểu rõ hoàn cảnh của bên kia. Điều đó, có nghĩa là lãnh đạo Bắc Kinh phải hiểu Đài Loan nay là nước dân chủ, cho nên có muốn thống nhất thì cần thuyết phục người dân Đài Loan, chứ chả nên hăm dọa họ bằng giải pháp võ lực. Trong khi chờ đợi, Mỹ không chủ trương một giải pháp cho hai bên mà vẫn có nhiệm vụ bảo vệ Đài Loan chiếu đạo luật Quốc hội Mỹ đã ban hành. Điều đó thực ra có lợi cho hòa bình vì tránh được phản ứng thái quá và đòi hỏi sự đối thoại ôn hòa. Sau cùng, về tình hình bán đảo Triều Tiên, Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ nỗ lực hòa giải giữa hai nước Nam Bắc Hàn, và quan niệm đường lối ngoại giao của mình trong khu vực này theo một số nguyên tắc. Thứ nhất, hỗ trợ chính sách hòa giải của Tổng thống Nam Hàn Kim Đại Trung; thứ hai, tiếp tục khai triển những cam kết trong thỏa ước quốc tế nhằm chấm dứt kế hoạch sản xuất võ khí nguyên tử của Bắc Hàn; thứ ba, sẵn sàng thảo luận với Bắc Hàn nhằm kết thúc chương trình sản xuất và phổ biến hỏa tiễn, và giảm dần sự căng thẳng trên bán đảo; thứ tư, chỉ thỏa thuận với Bắc Hàn sau khi có kiểm chứng xác thực sự tuân thủ của Bình Nhưỡng và, sau cùng, tham khảo ý kiến với Nhật Bản và Nam Hàn trong mọi quyết định liên hệ đến cách đối phó với Bắc Hàn... Kính thưa quý thính giả nghe đài... Trên đây là những điểm chính yếu mà người Phụ tá cho Ngoại trưởng Mỹ về đối sách với Đông Á vừa trình bày trước Tiểu ban Hạ viện về Đông Á và Á châu Thái bình dương và Ủy ban Ngoại giao Hạ viện, vào ngày Thứ Ba tuần qua. Theo quan niệm hiến chế của một quốc gia dân chủ, Hành pháp có nhiệm vụ trình bày với giới chức Lập pháp về đường lối chính sách sẽ áp dụng và trả lời thắc mắc của các đại diện dân cử. Trên cơ sở đó, ta thấy quyền lợi kinh tế giữ một vai trò quan trọng trong đối sách của Mỹ tại Đông Á. Đồng thời, trong phần báo cáo của mình, Trợ lý Ngoại trưởng Kelly không hề nhắc tới Việt Nam. Khi Quốc hội Mỹ chuẩn bị thảo luận để phê chuẩn bản Hiệp định Thương mại, điều này tất nhiên là chi tiết có ý nghĩa: có thể nói là trong quan niệm đối ngoại của Mỹ, Việt Nam không là một ưu tiên, một hồ sơ đáng quan tâm. Nếu hiểu như vậy, có lẽ lãnh đạo Việt Nam sẽ tránh được những sợ hãi vô lối và sẽ có những chọn lựa có lợi về cả an ninh và kinh tế cho người dân.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

COMMENTS

Xem toàn trang