Chiến Tranh Việt Pháp: Ngày Kháng Chiến Toàn Quốc 19-12

1999-12-18
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Hôm nay là ngày 19-12, nhớ lại cũng ngày này 53 năm trước, người dân Thủ đô Hà Nội sống dưới bầu trời đằng đằng sát khí. Rồi đúng 8 giờ tối ngày 19, trong toàn thành phố điện vụt tắt, súng nổ khắp nơi, lửa cháy ngụt trời. Kể từ đó ngày này được gọi là Ngày Kháng Chiến Toàn Quốc. Các sử sách xuất bản ở Hà Nội từ 1955 hết thảy đều khẳng định rằng công cuộc kháng chiến chống Pháp hoàn toàn do chủ trương và công lao của Đảng Cộng sản đứng đầu là ông Hồ Chí Minh. Sự thật có đúng như vậy hay không? Ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản có chủ trương chống lại việc Pháp đưa quân đội vào Việt Nam với mục đích lập lại nền cai trị của Pháp ở Việt Nam hay là chính ông Hồ và đảng của ông chủ trương đón quân Pháp trở lại và mong được hợp tác với Pháp? Tại sao cuộc hợp tác này không thành và chiến tranh Việt-Pháp lại nổ ra? Để cho lịch sử khỏi bị trình bày sai lạc một cách cố ý, thiết tưởng cần duyệt lại các sự kiện đã xảy ra trong bối cảnh của những ngày tháng từ khi Pháp đưa quân đội trở lại Sàigòn rồi ra Hải Phòng, được đón rước vào Hà Nội, được đóng quân ở nhiều tỉnh và thành phố, để rồi mở rộng vùng kiểm sóat và bị toàn dân Việt Nam đánh lại. Để có một tầm nhìn toàn cảnh cuộc chiến đấu hào hùng của nhân dân ta chống trả mưu toan của những người thực dân muốn lập lại nền cai trị của Pháp ở Việt Nam, cần xem xét lại tình hình ở cả hai phía. Trước hết, cần phải điểm lại chính sách của Pháp đối Việt Nam kể từ khi Nhật đầu hàng. Nói cho đúng, trước và sau năm 1945, chính phủ Pháp De Gaulle và các chính phủ kế tiếp không có một chính sách rõ rệt về Việt Nam. Pháp chỉ tùy thời mà cố gắng vận dụng các Đồng Minh để mong lập lại thế lực ở Đông Dương. Nguyên do là Pháp đã không được dự Hội nghị Potsdam, họp ở Berlin từ ngày 17 tháng Bảy đến ngày 2 tháng Tám năm 1945. Hội nghị này quy tụ ba nguyên thủ của Đồng minh là Tổng thống Mỹ, ôngTruman, Thủ tướng Anh, ông Attlee, và Tổng tài Trung Hoa là Thống chế Tưởng Giới Thạch. Những nét chính của việc sắp đặt cho Nhật đầu hàng đã được dự liệu trong văn kiện gọi là Tối Hậu Thư Potsdam ký ngày 26 tháng Bảy. Hội nghị Potsdam quyết định chia công tác giải giới quân đội Nhật và giữ trật tự ở Đông Dương làm hai phần, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới. Phía Bắc, từ Đà Nẵng trở ra do Trung Hoa trách nhiệm, phía Nam trở vô do Anh quốc. Nhật đầu hàng ngày 15 tháng Tám thì hai mươi ngày sau, tức là 5 tháng Chín, đơn vị đầu tiên của Quân đội Hoàng gia Anh tới Saigòn. Tới cuối tháng Chín Quân đội Trung Hoa mới lục tục kéo sang Bắc bộ. Trong khoảng thời gian hơn một tháng đó rất nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra. Việt Minh kiểm soát Hà Nội ngày 19 tháng Tám, ông Hồ Chí Minh từ an toàn khu về Hà Nội ngày 21 thì ngay ngày hôm sau, phái viên của Pháp là Sainteny cũng theo viên Trưởng toán tình báo của Mỹ là Thiếu tá Patty tới Hà Nội. Vua Bảo Đại chịu thoái vị ngày 24 và trao lại cho Việt Minh trách nhiệm giữ gìn độc lập. Tại Sàigòn, Ủy ban Hành chánh Nam bộ lâm thời ra mắt ngày 25. Cuộc tiếp xúc Việt-Pháp đầu tiên diễn ra tại Hà Nội ngày 27, giữa đại diện của Việt Minh là Võ Nguyên Giáp với đại diện Pháp là Sainteny, có sự chứng kiến của Thiếu tá Tình báo Mỹ là Patty. Tất cả những sự kiện vừa kể đã diễn ra trong vòng an ninh do quân đội Nhật đảm trách, nếu không nói đến các vụ khủng bố và thủ tiêu người lén lút do Việt Minh gây ra. Tình trạng mất an ninh trật tự xảy ra trước hết tại Sàigòn đúng vào ngày 2 tháng Chín. Khi đoàn biểu tình tuần hành của dân chúng đi ngang bùng binh Nhà Thờ Đức Bà thì có mấy phát súng từ đâu đó bắn vào đám đông. Dân cho rằng người Pháp khiêu chiến, liền xông lên đánh phá mấy ngôi nhà của người Pháp mà dân cho rằng súng từ đó bắn ra. Cuộc đụng độ này, phía người Việt có 2 chết, 20 bị thương, phía thường dân Pháp có 2 chết mà một người là linh mục Thiên Chúa giáo và 19 bị thương. Đến khi quân đội Hoàng gia Anh tới giải giới quân Nhật thì tình hình càng xấu đi. Nguyên do là theo chân quân đội Anh tới Saigon có một đơn vị quân đội Pháp thuộc Trung đoàn số 5 Bộ binh Thuộc địa. Sự có mặt của đơn vị quân Pháp mới đổ bộ này làm cho dân chúng Sài gòn và Nam bộ hết sức bất bình. Thêm nữa, theo quy định của Thỏa hiệp Potsdam, 1,500 quân sĩ Pháp thuộc Trung đoàn 11 trước đây đã bị Nhật bắt giữ làm tù binh, được thả ra ngày 21. Đám cựu tù binh Pháp này tập hợp lại,bám theo binh sĩ Anh và chiếm giữ hầu hết các công sở tại trung tâm Sàigòn. Trong đêm 22 rạng 23 tháng Chín, đám cựu tù binh Pháp càng trở nên hung dữ hơn. Chúng làm náo loạn thành phố, bắt giữ hàng ngàn thường dân người Việt, một số người Việt bị chúng đánh chết không rõ là bao nhiêu. Viên tướng chỉ huy quân đội Anh phải ra lệnh trừng phạt và nhốt hết bọn chúng trong trại, đồng thời trả tự do lập tức cho tất cả những người Việt bị chúng bắt giữ trái phép. Sau này, một nhà quân sử Pháp là Tướng Gras đã ghi lại rất khách quan rằng: -Chiến tranh Việt-Pháp đã khai diễn ngày 23 tháng Chín năm 1945, nhưng không một ai biết đến. Cuộc bạo hành của đám cựu tù binh Pháp đã xúc phạm nặng nề đến lòng tự hào dân tộc của người Việt. Ngày 24, công nhân và tiểu thương bảo nhau tổng đình công bãi thị khiến cho toàn thành phố bị cắt điện, nước và thực phẩm. Đêm 24 rạng 25, cư xá Héraut của gia đình viên chức Pháp ở khu Tân Định bị một toán võ trang bao vây và đến 7 giờ sáng cuộc tàn sát bắt đầu. Sau đó, người ta đếm được 150 xác chết, số người bị bắt đem đi biệt tích khoảng 200, tất cả đều là người Pháp. Dân chúng Sàigòn biết rằng đây là hành động trừng phạt của lực lượng võ trang Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Bảy Viễn là người mà sau này lại được Pháp phong quân hàm Thiếu tướng. Từ đó người dân Sàigòn-Chợlớn-Giađịnh nhất tề đứng lên kết thành đội ngũ đánh lại quân Pháp. Lực lượng mạnh nhất vào lúc đó vẫn là các đơn vị Bình Xuyên gồm 1,200 tay súng. Từ cuối tháng Chín, Pháp có thêm viện quân đổ tới mỗi ngày một nhiều, giúp cho tướng Leclerc làm chủ tình thế khu trung tâm Sàigòn. Trong khi đó dân quân chống Pháp mà thành phần chủ yếu là thanh niên và trí thức rút ra ngoại thành lập trận thế bao vây, bắn tỉa, vưà xây dựng lực lượng vừa đánh tập kích. So sánh lực lượng vào cuối năm 1945 ở Nam bộ thì cán cân nghiêng hẳn về phía Pháp. Quân số của Lực lượng Viễn chinh Pháp gồm trên 30,000 quân sĩ thuộc đủ mọi quân-binh chủng và được trang bị hiện đại. Với lực lượng hùng hậu đó, tướng Leclerc xua quân tiến chiếm Mỹ Tho, Gò Công, Cần Thơ, rồi Nha Trang, Bản mê thuột. Pháp kiểm soát các trục lộ giao thông chính yếu ở Nam bộ và cao nguyên. Đã có ưu thế ở phía Nam, Pháp tính việc trở lại miền Bắc. Công tác này được giao cho Phái bộ ba người do Sainteny cầm dầu với tư cách là Ủy viên Cộng Hòa Pháp tại Hà Nội. Từ tháng Mười, Sainteny được tự do điều đình thẳng với Hồ Chí Minh mà không bị Patty kìm chế, bởi vì khi đó viên trưởng toán tình báo Mỹ này đã dời Hà Nội. Sainteny và người phụ tá là Pignon thường gặp Chủ tịnh Hồ Chí Minh vào ban đêm. Nội dung các buổi nói chuyện này được đôi bên giữ bí mật tuyệt đối, ngay cả viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương là Đô đốc d'Argenlieu cũng chỉ được biết đại khái. Mục tiêu của Phái bộ Sainteny là thuyết phục Hồ Chí Minh để ông này bằng lòng cho quân đội Pháp trở lại Bác bộ thay thế 180,000 quân Trung Hoa. Mặt khác Pháp cũng điều đình thẳng với Trung Hoa nhằm đạt mục tiêu này. Kết quả là Thỏa hiệp Pháp-Hoa được ký ngày 28 tháng Hai năm 1946 tại Trùng Khánh giữa Đại sứ Pháp là René Meyrier và Tưởng Thống chế. Theo Thỏa hiệp này, Trung Hoa bằng lòng rút quân khỏi miền Bắc ViệtNam để cho quân Pháp tới thay thế. Và liền đó, chỉ một tuần sau, Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt được ký ngày 6 tháng Ba tại Hà Nội giữa phía Pháp là Sainteny và phía Việt là Hồ Chí Minh với chữ ký phó thự của Vũ Hồng Khanh. Đúc kết tình hình Việt Nam vào tháng Ba 1946, cựu Tổng Thống Mỹ là Richard Nixon, sau khi về hưu đã nghiên cứu các văn kiện lịch sử và viết như sau đây: ỘMột số người tin rằng Hồ Chí Minh thật sự muốn đứng về phía chúng ta. Nhưng sự thật là ông ta muốn cho thấy là chúng ta đứng về phía họ Hồ. Sự hợp tác giữa toán Tình báo Mỹ với Hồ Chí Minh là một yếu tố quyết định cho mọi chuyển biến tình hình vào thời đó. Đối với nhân dân Việt Nam, vốn vẫn tin tưởng ở nước Mỹ, sự có mặt của những sĩ quan Mỹ khi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập đã tạo cho ông ta tính cách hợp pháp cao độ mà không một khuôn mặt nào khác có được... Các lực lượng trú đóng thời hậu chiến của Anh, của Mỹ và của Trung Hoa đã sớm rời khỏi Việt Nam và Pháp đã trở lại.Trong khi các tập hợp người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia từ chối hợp tác với Pháp, thì những người Cộng sản Việt Minh đã tự chọn lấy việc hợp tác với người Pháp. Hồ Chí Minh ký văn kiện gọi là Hiệp định ngày 6 tháng Ba đưa quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Có người cho rằng họ Hồ thỏa hiệp với Pháp nhằm buộc Trung Hoa phải rút ra khỏi Việt Nam. Nhưng một tuần trước đó, Trung Hoa đã cam kết rút quân về theo một thỏa hiệp riêng rẽ ký với Pháp. Về động cơ thật sự của việc hợp tác với Pháp, nhân vật coi như cánh tay mặt của Hồ Chí Minh là Lê Duẩn, sau này đã nói rõ rằng việc đó nhằm quét sạch bọn phản động. Đối với Việt Minh lúc đó, tất cả những người theo chủ nghĩa quốc gia đều bị coi là phản độngỢ. Lời ghi nhận vừa rồi của cựu Tổng Thống Mỹ Richard Nixon đã chấm dứt bài thứ nhất trong loạt bài nói về Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp. Trong bài kế tiếp, nhà nghiên cứu Lê Văn Tiến sẽ duyệt xét lại tình hình miền Bắc khi Quân đội Viễn Chinh Pháp được đón rước về Thủ đô Hà Nội./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang