Chính quyền trong kinh tế thị trường

1999-12-20
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Chúng ta đang ở trong những ngày cuối của năm 1999, một năm có đầy bài học phong phú về quản lý và cải tổ kinh tế sau khủng hoảng Đông Á. Diễn đàn Kinh tế kỳ này, Nguyễn An Phú xin bắt đầu làm công việc tổng hợp một số bài học nói trên, và phân tách những nhận định kinh tế phổ biến nhất hiện nay để nhấn mạnh tới vai trò của chính quyền trong sinh hoạt kinh tế thế giới... Năm 1999 đang chấm dứt có thể được gọi là năm Ộphục hồi kinh tế của châu ÁỢ, sau 18 tháng khủng hoảng tại Đông Á, từ tháng Bảy năm 1997 đến cuối năm 1998. Sở dĩ như vậy vì cả năm nền kinh tế bị khủng hoảng nặng tại Đông Á, là Thái Lan, Indonesia tức là Nam Dương, Mã Lai Á hay Malaysia, Phi Luật Tân hay Philippines và Đại Hàn, đều đã chìm tới đáy vào cuối năm 98 để lần lượt ổn định rồi bắt lại đà tăng trưởng trong suốt năm nay. Mặc dù cuộc khủng hoảng có gây hốt hoảng cho thế giới và gieo họa cho các xứ ở xa như Liên bang Nga và Ba Tây, hay là Brazil, người ta cũng đã thực tế tránh được một vụ tổng khủng hoảng như thời 1929-1933. Tuy nhiên, một số quốc gia lại chưa may như vậy và tới nay vẫn chìm sâu hơn vào suy trầm sản xuất, điển hình là Trung Quốc, Nga và Việt Nam. Vì vậy, trong khi các nước công nghiệp hóa và nói chung đa số các quốc gia trên thế giới đều hết nói tới khủng hoảng và ngợi ca hiện tượng toàn cầu hóa cùng sự phồn thịnh kinh tế, thì nhiều xứ vẫn phân vân do dự về lợi thế của toàn cầu hóa và về ưu điểm của kinh tế thị trường. Chúng ta sẽ tìm hiểu sự kiện này để nhấn mạnh tới một sự thật dễ bị nhận thức sai, là vai trò của chính quyền. Vào thiên niên kỷ tới, giới quan sát kinh tế sẽ nói rất nhiều tới hiện tượng toàn cầu hóa và ảnh hưởng của công nghệ tin học vào kinh tế, khiến sự vận hành kinh tế thế giới sẽ có nhiều thay đổi khác hẳn thời xưa. Nhiều người đã nói tới thức dạng kinh tế mới, chưa từng có từ trước tới nay. Quả vậy, nhờ đa số đã giải tỏa rào cản trong luồng mậu dịch và tài chánh giữa các nước, lợi tức kinh tế các nơi có gia tăng và mức sống dân cứ có được nâng cao. Đồng thời, nhờ sự ứng dụng của tín học, năng suất lao động tại nhiều quốc gia đã có cải tiến, và đem lại lợi ích lớn lao mà người ta chưa kịp đo lường hết. Trên đà lạc quan đó, nhiều kinh tế gia đã vội quên vụ khủng hoảng Đông Á và sớm nói tới một kỷ nguyên thịnh vượng chưa từng có và sẽ còn kéo dài rất lâu. Sự thật không hẳn tốt đẹp như vậy, và sau đây là một số lý do mà người ta nên ghi nhận, khi tổng kết kinh nghiệm cuối năm. Thứ nhất là nếu thế giới ngày nay có hiểu biết nhiều hơn về kinh tế, so với tình trạng của hơn 60 năm trước, nên có thể tìm ra biện pháp ngăn ngừa tổng khủng hoảng như vào thập niên 1930, thì đa số các nước trên mặt địa cầu vẫn chưa đạt được mức độ trưởng thành đó, và sự phồn thịnh đang được ngợi ca vẫn chưa là hiện tượng phổ biến. Thứ hai, mặc dù kinh tế thế giới đã có tiến bộ về cơ chế trao đổi cho tự do hơn và biết dung nạp công nghệ tín học để cải tiến hình thái sản xuất và quản lý, sự vận hành của kinh tế ở mọi nơi trên thế giới vẫn tùy thuộc vào một quy luật căn bản, đó là tâm lý của con người, nhất là tâm lý của đám đông. Tâm lý đó có thể đổi thay rất nhanh, từ lạc quan thái quá đến nỗi lấy ủi ro kinh doanh nguy hiểm, tới bi quan thái quá và làm sai lệch quyết định sáng suốt nhất, nên lại gây ra khủng hoảng. Nói tới tâm lý của quần chúng lẫn tác động của nó vào sinh hoạt kinh tế, kinh nghiệm năm 1999 này cho thấy yếu tố quan trọng nhất của thăng trầm kinh tế chính là niềm tin. Khi người dân hết tin tưởng thì chánh sách kinh tế có đúng trên nguyên tắc cũng dẫn tới phản ứng tai hại trong thực tế. Ở các xứ nghèo, hoặc đang phát triển như trường hợp Á châu vừa qua, niềm tin của người dân vào chính quyền là yếu tố then chốt. Quốc gia nào sớm thoát khủng hoảng cũng là nơi mà dân chúng tin vào điều nhà nước nói và làm, tiêu biểu nhất là Đại Hàn và Thái Lan. Cả hai đều có chính quyền mới, được dân bầu lên và gây dựng được sự tín nhiệm của người dân nhờ quyết tâm ổn định và cải cách lẫn đức tính liêm khiết và vô tư. Một bài học kinh tế khác của năm 1999 này là, trong đà phát triển nền kinh tế thị trường, người ta sớm nói tới một hiện tượng coi như trào lưu tất yếu. Đó là quy luật thị trường tác động mạnh hơn sự can thiệp của chính quyền. Điều đó không sai, nhưng không vì vậy mà các chính quyền đã mất vai trò quyết định, hoặc không còn được phép can thiệp vào thị trường. Ngược lại, tự do kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải có một chính quyền mạnh, nhưng không phải một chính quyền bao biện ôm đồm. Trong thế giới toàn cầu hóa và muốn phát triển thật mạnh, các nước đều cần phải có một chính quyền có khả năng, nhưng khả năng đó cần được quan niệm lại. Nói cho rõ hơn, thế giới cần xác định cho đúng vai trò của chính quyền trong kinh tế thị trường. Bài học của năm 1999 này là chính quyền phải đủ mạnh để không bị các thế lực kinh tế trong xã hội chi phối mà lấy quyết định thiên vị cho nhóm này và có hại cho nhóm khác. Chính quyền mạnh phải độc lập và vô tư, và tập trung nỗ lực yểm trợ hoặc điều chỉnh quy luật thị trường, nhất là trong ba lãnh vực xã hội, giáo dục và môi sinh, vốn không hoàn toàn do quy luật thị trường chi phối. Một chính quyền mạnh vẫn có thể là của phe tả, theo xu hướng xã hội, và tập trung yểm trợ các thành phần bị thiệt thòi trong trường cạnh tranh và biết vận dụng quy luật kinh tế để đạt mục tiêu đó. Chính quyền yếu là khi lấy quyết định căn cứ trên áp lực bí mật, mờ ám và vị kỷ của thế lực chính trị, doanh nghiệp nhà nước hoặc tay chân của lãnh đạo. Dân chúng không tin loại chính quyền này và tâm lý đó sẽ làm hỏng mọi chánh sách quản lý. Trường hợp của ba nước vẫn suy sụp hơn khi các lân bang đã phục hồi, là Trung Quốc, Liên bang Nga và Việt Nam, cho thấy các xứ đó sở dĩ chưa phục hồi là vì quy luật thị trường chưa được vận hành tự do, mà chính phủ bị bó tay bởi tính toán chính trị cục bộ hoặc bởi áp lực tiền tài và tham nhũng, trong khi đa số nghèo khốn không được cứu trợ giúp đỡ. Kết cuộc thì dân chúng chẳng tin vào kinh tế thị trường lẫn cả chính quyền. Điều đó mới giải thích vì sao mà trong trào lưu thịnh vượng của nhiều quốc gia, có một số nơi vẫn bị nguy cơ tụt hậu. Và người dân sẽ phải tìm thấy cho mình giải pháp khác, có khi là đột biến chính trị làm kinh tế suy sụp và xã hội khủng hoảng.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang