Kinh tế Á châu, với giải pháp mới

2000-08-07
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Trong nhiều thập niên, kinh tế các nước Đông Á đều theo một quy trình phát triển tương tự, là tận dụng khả năng xuất cảng bằng mọi phương tiện, để đạt tốc độ tăng trưởng cao. Vụ khủng hoảng của hai năm 1997- 1998 đã thực tế kết thúc thời hoàng kim đó và Á châu phải tìm ra sách lược phát triển khác. Điều này, có lẽ các nước trong khu vực đều hiểu, trừ trường hợp Việt Nam, với nhiều kỳ vọng lẫn lo sợ đặt vào bản Hiệp định Thương mại vừa ký với Hoa Kỳ và qua năm tới vẫn chưa có hiệu lực. Diễn đàn Kinh tế sẽ phân tách vấn đề khá phức tạp này, qua bài viết của Nguyễn An Phú... Trong sự vận hành chậm rãi thầm lặng mà đầy tính quyết định của kinh tế, vụ khủng hoảng của các năm 1997-1998 tại Đông Á là hồi chuông cảnh báo mà nhiều xứ trong cuộc hiểu ra khá chậm, và có khi quá chậm. Vào lúc Hà Nội phân vân do dự trước viễn ảnh hội nhập kinh tế vì hoặc nhờ bản Hiệp định Thương mại vừa ký với Hoa Kỳ, và với thị trường chứng khoán vừa mở ra những ngày giao dịch khiêm nhường đến tội nghiệp, thì nội dung lời cảnh báo từ vụ khủng hoảng Đông Á là điều cần được nhắc lạiẦ Trong nhiều thập niên, các nước Đông Á đều muốn đốt giai đoạn phát triển thật nhanh theo kịp Tây phương mà khỏi phải trải qua chu trình đầu tư như các nước Tây phương. Phép lạ kinh tế Đông Á nảy sinh từ đó, với nguyên do căn bản nhất là ý chí thắt lưng buộc bụng, tiêu thụ ít, đầu tư nhiều, hầu đạt mức tăng trưởng thật cao. Một trong những sáng kiến của Đông Á lúc đó là giàng nền kinh tế quốc dân vào đầu máy xuất khẩu, lấy thị trường xuất cảng này làm lực đẩy kinh tế. Đa số các dự án đầu tư nước ngoài đều được thu hút vào lãnh vực xuất cảng, và sức tiêu thụ cao của các thị trường Tây phương đã giúp họ đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất lịch sử nhân loại. Nhưng sách lược đó cũng có điểm tiêu tực mà vụ khủng hoảng đã phơi bày. Khi các nước Đông Á, kể cả Nhật Bản và đầu tiên là Nhật Bản, đi theo sách lược phát triển đó, người ta đều có thể chứng kiến ba hiện tượng, là thứ nhất, các nước tăng trưởng rất nhanh, với thứ hai, mức đầu tư rất cao, nhưng, thứ ba, lại có tỷ lệ sinh lời rất thấp so với vốn đầu tư. Cũng do sách lược đó, các nước Đông Á đều tích lũy một nguy cơ khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng vì, thứ nhất tỷ lệ sinh lời quá thấp, thứ hai mức độ rủi ro quá cao của đầu tư, và thứ ba, tinh thần ỷ lại vào sự cấp cứu của nhà nước trong các nghiệp vụ tín dụng bấp bênh như vậy. Nói cho dễ hiểu, cả nước coi xuất cảng là ưu tiên, nên nhắm mắt buộc bụng xuất cảng, dù có mức lời thấp mà rủi ro cao. Lý do là dù mức lời thấp thì việc đó cũng phù hợp với quốc sách kinh tế, và rủi ro có cao thì đã có nhà nước bao cấp cứu trợẦ Sau khi khủng hoảng xảy ra, chủ yếu do sự suy sụp của hệ thống ngân hàng đó, thế giới mới bắt đầu nhìn ra mặt trái của sách lược Đông Á. Không kể tới tỳ vết chứng tật của chủ nghĩa tư bản thân tộc, nạn bao che cho tay chân có quan hệ tốt với lãnh đạo, hoặc nạn tham nhũng phổ biến từ bộ máy nhà nước ra tới doanh trường, thì mặt trái của sách lược trên là, thứ nhất, hiệu năng thấp của đầu tư, tức là tỷ lệ sinh lời thấp đã nói ở trên; thứ hai, mức tiêu thụ kém của thị trường nội địa, vì cái gọi là quốc sách thắt lưng buộc bụng của chính quyền; và thứ ba, chánh sách hối đoái sai lệch với tỷ giá ngoại hối ấn định thấp để đạt ưu thế cạnh tranh xuất cảng. Người ta thường nói tới lý tưởng xã hội Đông Á, với quốc dân chịu khó kiêng khem dành dụm để phát triển xứ sở, khiến cho Đông Á có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất địa cầu, ở khoảng 30% lợi tức như các nước Á châu, có khi tới 40% như tại Trung Quốc. Thực ra, tỷ lệ tiết kiệm của tư nhân không cao tới mức đó, có lẽ trung bình chỉ ở khoảng 10% mà thôi. Nhưng, phần tiết kiệm còn lại chính là mức độ khấu hao, thuế suất hoặc tiền lời tái đầu tư rất cao. Và với nguồn tài trợ thực ra tốn kém khó khăn đó, nếu đầu tư mà ít hiệu năng thì chính là sức tiêu thụ của toàn nền kinh tế đã bị hy sinh. Nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu và đã sớm chỉ ra mặt trái của phép lạ kinh tế Đông Á này mà ít ai tin. Chẳng hạn như có nhiều nước có tỷ lệ sinh lời của đầu tư rất thấp, đi đôi cùng mức tiêu thụ rất nghèo nàn. Ba nước coi như tiêu biểu nhất của nền văn hóa kiểu "an bần lạc đạo" Đông Á, từ lớn tới nhỏ, từ mạnh tới yếu, cũng là tiêu biểu nhất cho sự yếu kém đó, là Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore. Người dân ở các xứ này làm nhiều hơn hưởng, và làm nhiều mà kết quả chả bao nhiêu vì tỷ lệ sinh lời của đầu tư thấp, và đây là nguyên do sâu xa nhất của vụ khủng hoảng kinh tế tại Hàn Quốc, với các tập đoàn chaebols bị vỡ nợ sau khi vay tiền đầu tư rất mạnh mà có lời rất ít. Ngược lại, hai xứ bị ảnh hưởng rất nhẹ của vụ khủng hoảng chính là Đài Loan và Hong Kong. Lý do bề ngoài có thể là hệ thống chính trị nơi đây liêm khiết hơn, nhưng lý do sâu xa hơn chính là hai xứ này đều có hiệu suất đầu tư cao nhất Đông Á. Họ sử dụng tiền đích thực là "cho đáng đồng tiền bát gạo", không phung phí tài nguyên cho loại dự án vừa ít lời mà nhiều rủi ro, theo kiểu lượng hơn phẩm. Sau khi vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á bùng nổ, nếu dư luận bên ngoài còn mơ hồ chưa hiểu, thì trong cuộc có khi đã hiểu khá rõ về nguyên do hậu quả. Vụ khủng hoảng là lời cảnh báo cho biết rằng sách lược phát triển Đông Á đã phá sản, và phải tìm giải pháp khác, đồng thời cải sửa những sai lầm cũ, khi hệ thống ngân hàng bị chìm dưới núi nợ khó đòi, các doanh nghiệp vỡ nợ vì chẳng thanh lý được các khoản vay mượn lưu cữu. Từ Nhật đến Hàn Quốc hay Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippines, đều đang gặp vấn đề này. Một cách đại lược và trên nguyên tắc thì muốn giải quyết, các nước trên thế giới có thể áp dụng một trong ba phương cách sau đây. Thứ nhất là hạ lãi suất và đành bị nạn giảm phát với đà tăng trưởng thấp; thứ hai là buông cho hệ thống ngân hàng bị phá sản, rồi thanh lý tài sản trả nợ; thứ ba là phá giá đồng bạc trong thực tế để hạ hối suất và kích thích xuất cảng làm lực đẩy kinh tế. Chẳng hạn như, từ khi trôi vào khủng hoảng, cuối năm 1989 trở đi, Nhật đã áp dụng giải pháp hạ lãi suất, bị giảm phát và kinh tế suy trầm mà giờ đây chưa thấy hy vọng phục hồi. Hoa Kỳ thì đã áp dụng giải pháp thứ nhì, thời ông Reagan, với việc thả nổi cho hệ thống Tiết kiệm và Tín dụng bị phá sản, và mất đứt 400 tỷ đô la. Mexico là nước áp dụng giải pháp thứ ba là phá giá đồng bạc cho thấp hơn thực giá và tìm trớn hồi phục nhờ xuất cảng khi bị khủng hoảng thời 1994-1995. Ngày hôm nay, các nước Đông Á đều có xu hướng áp dụng giải pháp thứ ba trong ba giải pháp trên, vì chẳng thể chịu đựng nổi những tai họa của hai giải pháp đầu tiên. Với lợi tức dân cư quá thấp, không xứ nào dám lãnh nguy cơ giảm phát như Nhật Bản, và với hệ thống an sinh xã hội chưa hề có, chẳng xứ nào dám thả cho các ngân hàng và doanh nghiệp phá sản như Hoa Kỳ đã làm, vì nạn thất nghiệp sẽ lập tức gây ra động loạn xã hội. Cho nên, khách quan mà nói, xứ nào cũng chỉ nghĩ tới giữ hối suất thấp và đạt mức xuất cảng cao để bảo đảm một tốc độ tăng trưởng vừa đủ, trong khi phát triển thị trường chứng khoán làm giải pháp huy động vốn khác hẳn giải pháp tín dụng hay trợ cấp dể dãi trong thời kỳ trước khủng hoảng. Và cùng với giải pháp cứu vãn đó, các xứ này phải tìm ra sách lược phát triển khác cho những thập niên tớiẦ Khi xét lại toàn bộ vấn đề như vậy, ta thấy là Việt Nam cũng chẳng có giải pháp thần diệu nào khác. Đi sau các xứ kia, Việt Nam phải cạnh tranh kịch liệt hơn mới gia tăng được phần thị trường xuất cảng của mình, và phải thanh lý các ngân hàng và doanh nghiệp phá sản hầu phát triển thị trường chứng khoán làm nguồn tài trợ đầu tư. Trong hoàn cảnh này, việc ký Hiệp định Thương mại với Mỹ có thể là hy vọng đáng mừng cho quốc dân. Nhưng, không may là nhà cầm quyền Hà Nội lại cứ sợ mất ảnh hưởng và đảng mất cơ sở kinh tài, nên mới đòi Mỹ nhượng bộ về đầu tư và mậu dịch. Hậu quả sau cùng là Việt Nam không khai thác được sức mạnh của doanh nghiệp Mỹ để tranh thủ thị trường Mỹ. Còn hệ thống quốc doanh thì vẫn cứ tưởng sẽ tồn tại như hiện trạng thêm ba bảy năm nữa. Đó là nói về giải pháp cải sửa, chứ về sách lược phát triển lâu dài thì đây là điều quá lâu dài, nên chưa ai muốn nghĩ tới./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang