Kinh tế Việt Nam: Tương lai còn u ám

2000-11-20
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Sau khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam trong 72 giờ, người ta nói nhiều đến triển vọng kinh tế của Việt Nam, nếu Quốc hội hai nước mau chóng phê chuẩn bản Hiệp định Thương mại mà hai bên đã ký vào tháng Bảy vừa qua. Thực ra, triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn còn xa vời, và tương lai có thể lại còn u ám hơn. Lý do chẳng phải vì Việt Nam chưa hoàn toàn bình thường hóa quan hệ kinh tế với Mỹ, mà vì lãnh đạo Hà Nội chưa dứt khoát trong ý chí cải cách. Sau loạt bài suốt tháng qua về nguy cơ biến động tại Á Châu, Diễn đàn Kinh tế kỳ này xin nói về trường hợp Việt Nam, qua bài nhận định của Nguyễn An Phú... Gần 30 năm trước, chuyến thăm viếng Hoa lục của Tổng thống Richard Nixon quả là chuyến đi lịch sử, với bản Tuyên ngôn Thượng Hải làm thay đổi cục diện Á châu sau đó. Vậy mà phải đợi tám năm sau, Mỹ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa lục, và Bắc Kinh mới tiến hành cải cách để thành cường quốc kinh tế như ngày nay. So sánh thì chuyến viếng thăm vừa kết thúc của Tổng thống Bill Clinton tại Việt Nam không có tầm vóc lịch sử như vậy, và khác với sự mong ước của nhiều người, chuyến đi cũng chẳng lập tức cải thiện kinh tế. Trong khi đó, những bất trắc tại Á châu còn có thể gieo hậu quả tai hại cho kinh tế xứ này trong thời gian tới đây. Khi khủng hoảng kinh tế Đông Á xảy ra trong các năm 1997-1998, kinh tế Việt Nam không bị hiệu ứng trực tiếp. Chính quyền xứ này còn cảm tưởng rằng nhờ chưa cải cách cơ chế để hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu nên Việt Nam đã thoát hiểm. Thực ra, Việt Nam có bị hậu quả, dù gián tiếp và chậm hơn. Nghiêm trọng hơn thế, trước khi vụ khủng hoảng Đông Á bùng nổ, thì kinh tế xứ này đã có triệu chứng suy trầm, kể từ cuối năm 1996 trở đi. Kiểm lại thì sau năm năm tăng trưởng với tốc độ cao, trung bình gần 8% trong các năm 1992-1996, từ cuối năm 96, kinh tế Việt Nam cần một đợt cải tổ mới, mà chính quyền lại không muốn và không dám. Vu khủng hoảng Đông Á nổ ra đúng lúc có đầy bất lơi đó. Hậu quả là đà tăng trưởng sụt hơn nửa trong các năm 97-98 và chỉ còn 5% vào năm ngoái. Suốt ba năm liền, ngạch số đầu tư nước ngoài sụt phân nửa mỗi năm vì hai lý do: nội tại là môi trường kinh doanh không cải thiện làm nản chí doanh gia quốc tế và ngoại nhập là vì 2/3 nguồn đầu tư đó lại đến từ các xứ Á châu bị khủng hoảng. Năm nay, kinh tế Việt Nam có chỉ dấu khả quan hơn, với đà tăng trưởng sản xuất được thông báo chính thức là hơn 6%, dù thực tế có thể thấp hơn. Nguyên nhân một phần là dầu thô tăng giá nên có giúp thu nhập xuất cảng tăng thêm hơn một tỷ ba, sau khi khấu trừ phần tăng giá của xăng dầu nhập cảng. Và nguyên nhân nữa là sản xuất công nghiệp cũng có tăng tiến sau ba năm liền bị suy giảm. Dù tình hình có vẻ khả quan hơn như vậy, Việt Nam vẫn khó tránh rủi ro biến động, nếu Á châu lại bị khủng hoảng và kinh tế khu vực lại bị suy thoái, như người ta đã e ngại từ ít lâu nay. Nhắc tới tình hình Hoa lục, thì khi họ bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ cuối năm 1978, Việt Nam ngày nay đang gặp những vấn đề như Hoa lục đã bị mươi năm trước. Từ khi khởi sự đổi mới kinh tế vào cuối năm 1986, Việt Nam mất năm năm dọ dẫm và chỉ cải tổ từ đầu thập niên 90 nên đạt mức tăng trưởng ngoạn mục từ năm 92 đến 96 như vừa nói. Quyết định giải tỏa kiểm soát nông nghiệp có thực tế giải phóng tiềm lực sản xuất của nông dân, nhờ đó sản lượng nông nghiệp gia tăng đáng kể, giúp Việt Nam giành được ngôi vị xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới sau Thái Lan và trước Hoa Kỳ. Nhưng, việc cải cách công nghiệp và doanh nghiệp nhà nước quanh các thành phố lại chẳng đạt kết quả ngoạn mục tương tự. Các doanh nghiệp nhà nước làm ăn lỗ lã và bị chìm trong nợ, kéo theo các ngân hàng quốc doanh vốn cũng èo uột nay lại bị hao vốn vì mất nợ. Việc cải tổ luật lệ và hành chánh công quyền tiến hành quá chậm, vì nếu thực sự cải tổ thì pháp quyền nhà nước sẽ lấn án đảng quyền. Do nền tảng luật lệ hành chánh không cải thiện và chế độ độc đảng vẫn được bảo vệ, hai hiện tượng đã tất nhiên xảy ra: nạn cường hào ác bá ở địa phương và tham nhũng trong bộ máy công quyền. Mức sống nông dân có cải thiện sau vài năm đầu đã bắt đầu bị khựng, nên bất mãn đã bùng nổ trước tiên ở các tỉnh miền Bắc. Do đó mà nhiều vụ biểu tình chống đối đã xảy ra ở đó. Những hiện tượng trên có xảy ra tại Trung Quốc, vào cuối thâp niên 89 và góp phần đưa tới vụ Thiên an Môn năm 1989. Điều đáng chú ý là ngay sau khi gặp phản ứng xã hội và chính trị bất lợi như vậy, Bắc Kinh lại kiên trì đẩy mạnh việc cải cách chứ không thoái lui. Chuyến Nam du của Đặng Tiểu Bình năm 1992 phần nào trấn an được dư luận trong và ngoài nước. Với Thủ tướng Chu Dung Cơ lên lãnh đạo kinh tế từ mùa Xuân năm kia, Trung Quốc tiếp tục việc cải cách, nhất là cải cách doanh nghiệp. Việt Nam thì không dám làm như vậy. Điều bất lợi nữa là xứ này vốn chẳng có được cái thế như Trung Quốc mà lại có óc bài ngoại nặng hơn với doanh gia nước ngoài. Môi trường đầu tư đã chẳng cải thiện mà viên chức cấp địa phương, nhất là ở miền Bắc, còn nghi ngại doanh gia quốc tế, chứ không được cởi mở và thực tiễn như các viên chức Trung Quốc. Điểm bất lợi thứ ba nữa là lãnh đạo Việt Nam lại thiếu tinh thần tự tin và tự chủ, cho nên sau khi mất quá nhiều thời giờ thương thảo bản Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, vào lúc chót, Hà Nội lại không dám ký kết. Một phần vì họ e sợ những điều kiện giải tỏa của Hiệp định sẽ soi mòn quyền lực của đảng. Một phần nữa là vì Hà Nội sợ làm Bắc Kinh phật ý khi ký bản Hiệp định Thương mại với Mỹ. Rốt cuộc thì năm ngoái Trung Quốc đã ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ và hy vọng sẽ sớm gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO để biến thị trường Trung Quốc thành một thỏi nam châm thu hút các nguồn đầu tư và kinh doanh trên toàn cầu. Trong khi đó, đầu tư nước ngoài vẫn xa lánh thị trường Việt Nam, từ gần tám tỷ bốn năm về trước nay chỉ còn hơn 400 triệu đô la. Con số khả quan hơn vừa thông báo hồi tháng 10 thực ra chỉ là tượng trưng, vì trút vào một số dự án dầu khí, chẳng có ảnh hưởng tỏa rộng cho toàn nền kinh tế. Giữa cảnh bất ổn của cả khu vực Á châu và với Hoa lục nay dứt khoát hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu, giới đầu tư các nước đều thấy thị trường Hoa lục mới là nơi đầu tư hấp dẫn hơn cả. Và thị trường Việt Nam thì chỉ nổi tiếng trên mặt báo, nhờ đã ký Hiệp định Thương mại và nhờ chuyến đi ồn ào náo nhiệt của ông Clinton, chứ thực tế vẫn chưa là nơi kiếm ra tiền. Sau khi đã được liên tục khuyến cáo, tháng 10 vừa rồi, Việt Nam mới lấy quyết định chấm dứt chính sách bao cấp trong các doanh nghiệp nhà nước và chuyển hẳn một số nghiệp vụ về phúc lợi xã hội trong hệ thống quốc doanh qua ngân sách nhà nước. Dù ngân sách hiện đã bị bội chi tới gần 3,5A% tổng sản phẩm GDP, quyết định đó vẫn là điều đáng mừng, nhưng dù sao vẫn có thể là quá trễ so với các lân bang. Và viễn ảnh trung hạn, từ hai đến năm năm tới đây, vẫn là một sự u ám. Nguyên nhân đầu tiên là dù người dân có tinh thần cởi mở và tháo vát trong kinh doanh, nhất là dân chúng miền Nam, chế độ vẫn có sự nghi ngại với kinh tế thị trường nói chung và doanh nhân quốc tế nói riêng. Cho nên, tư doanh vẫn chưa thực sự được giải phóng và Việt Nam chưa thể huy động được nguồn vốn nước ngoài quá sức cần thiết cho việc đầu tư và phát triển xứ sở. Nguyên nhân thứ hai là gánh nợ tài chính của những năm sai lầm trước đây, dù không lớn bằng Trung Quốc, như chúng ta có dịp trình bày cách đây hai tuần, cũng vẫn là mối đe dọa cho hệ thống tài chính ngân hàng. Nếu không có sự tham gia của các ngân hàng và công ty tài chính nước ngoài, Việt Nam sẽ khó ra khỏi vũng lầy này trong thời gian tới. Cho đến nay, chế độ chỉ dám dè dặt tiến hành những việc cải tổ dễ dãi và ít rủi ro, chứ chưa đủ tầm nhìn và đởm lược để chủ động cải cách như Bắc Kinh. Việc Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cố biện bạch với Tổng thống Bill Clinton về giá trị của xã hội chủ nghĩa cho thấy là Đại hội đảng kỳ tới đây cũng chưa hứa hẹn những thay đổi cần thiết cho xứ này. Nếu sóng gió Á châu nổi lên như người ta e ngại, Việt Nam sẽ bị dìm trong bão tố, và đó là sự chọn lựa của nhà cầm quyền, một sự chọn lựa không may cho người dân./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang