Nỗi lo từ cuộc cãi vã về tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng

Từ Nguyên Trực
2020-04-24
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Hình minh hoạ. Người lính hải quân Việt Nam đứng canh ở đảo Thuyền Chài thuộc Trường Sa hôm 17/1/2013
Hình minh hoạ. Người lính hải quân Việt Nam đứng canh ở đảo Thuyền Chài thuộc Trường Sa hôm 17/1/2013
Reuters

Thời gian vừa qua, biển Đông liên tục “dậy sóng” bởi các hành động hung hăng nối tiếp hung hăng của Trung Cộng. Trung Cộng vẫn đang thể hiện là một “tay chơi” kiên nhẫn và đầy mưu mẹo. Những vấn đề nội bộ của Trung Cộng cũng nóng bỏng khi quốc gia này đang đối mặt với những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội từ trong nước đến ngoài nước. Trong bối cảnh đó, tung ra vài chiêu tại biển Đông là dư luận cả thế giới im bặt vì đã dồn hết chú ý vào đó.

Sự kháng cự của các quốc gia ASEAN có lúc tưởng chừng như vô vọng, nhưng lại được “bơm” bởi một số tuyên bố khích lệ từ các cường quốc, nhất là Hoa Kỳ. Dư luận Việt Nam đang nức lòng khi lần đầu được thấy tận mắt các Công hàm của Phái đoàn Việt Nam tại Liên Hợp Quốc phản đối các lập luận của Trung Cộng. Tuy nhiên, niềm hưng phấn ấy không giữ được lâu.

Ngày 17/4/2020, Trung Cộng tung một Công hàm nhiều ý nghĩa khác nhau cho Việt Nam. Một số chuyên gia lo lắng khi nhận được tín hiệu đe doạ sử dụng vũ lực từ Trung Cộng. Ngoài ra, cũng có chuyên gia nhận thấy rằng, trong Công hàm này, Trung Cộng lại tiếp tục đưa một “cái áo mới” là Tứ Sa chồng lên ái áo cũ “đường lưỡi bò” cho lập luận hòng chiếm cả biển Đông của Trung Cộng.

Nhưng dư luận Việt Nam dửng dưng trước điều đó, mà tất cả lại đổ dồn về một vấn đề khác. Đó là việc Trung Cộng lại tiếp tục khơi lại luận điểm Việt Nam đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Tây Sa (Tức Hoàng Sa) và Nam Sa (Tức Trường Sa) thông qua cái mà Trung Cộng gọi là “Công hàm năm 1958” do ông Phạm Văn Đồng - Thủ tướng Việt Nam khi đó ký tên trực tiếp.

Những tranh luận ồn ào về văn bản này lại được dịp bùng lên. Và rất nhanh, như mọi cuộc tranh luận khác, cuộc tranh luận đã nhanh chóng trở thành một cuộc cãi vã. Là cãi vã bởi vì, chẳng ai muốn nghe ai, chẳng ai đếm xỉa gì đến lập luận, mà chỉ cố gắng tìm cách thể hiện. và áp chế quan điểm của riêng mình, còn ai nghe hay không mặc kệ.

Cãi vã đầu tiên là liên quan đến tên gọi của văn bản này. Phía Trung Cộng gọi nó là Công hàm ( Tiếng Anh gọi Công hàm là Notes hoặc Công hàm ngoại giao: Notes Verbales), Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc trong một số văn bản gửi lên Liên Hợp Quốc gọi nó là Thư (Tiếng Anh: Letters). Một số người khác thì gọi nó là Công thư, hàm ý là một thư của Chính phủ, khác với thư của cá nhân.

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc Photo: RFA

Cãi vã thứ hai và nhiều nhất là việc nội dung văn bản này có ràng buộc Việt Nam như phía Trung Cộng tuyên bố là đã cấu thành sự công nhận chính thức của phía Việt Nam với chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo này. Một số học giả Việt Nam ở trong nước và hải ngoại ra sức phân tích rằng, văn bản này không hẳn đã khiến Việt Nam “thua trắng” nếu ra Toà án quốc tế phân xử.

Tuy vậy, cuộc cãi vã vẫn bùng lên và chưa đến hồi lắng dịu. Trong bài này, tác giả không tập trung vào phân tích tính pháp lý của văn bản vì nhiều người đã trình bày. Và ngay trong nhiều văn bản chính thức của Phái đoàn Thường trực Việt Nam gửi lên Liên Hợp Quốc cũng thể hiện những nội dung đó rồi.

Một số luật gia trẻ tuổi thấy bùng lên cơ hội muốn thể hiện khả năng bản thân, thông qua việc phản biện và phê phán các lập luận trước đã đưa ra để “trấn an” công luận. Một số nhà nghiên cứu khác cũng lên tiếng chê bai ông Phạm Văn Đồng, ý muốn nói rằng “đáng đời thằng bán nước”. Cá biệt có nhà nghiên cứu còn cho rằng, tất cả những lập luận bảo vệ Việt Nam như vậy, ông ta đã thấy trước và chỉ có cách theo lập luận của ông ta mà thôi.

Điều rất ngạc nhiên của người viết khi chứng kiến cuộc cãi vã “kinh khiếp” này. Cũng sẽ có người nói rằng, với tinh thần khoa học thì phải mổ xẻ điểm yếu, điểm mạnh của mỗi bên, để có được những sức mạnh pháp lý cần thiết. Thế nhưng, nếu nói về khoa học, có mấy người nào chịu khó đọc tất cả các lập luận của các bên để đưa ra một cái nhìn khách quan, nhiều chiều nhưng phải được đặt trên tổng thể các lập luận đó. Xin nhắc rằng, lập luận về chủ quyền của mỗi bên đều là một tập hợp nhiều luận điểm khác nhau, được hỗ trợ bởi nhiều luận cứ và các bằng chứng lịch sử pháp lý, thế nhưng dường như dư luận Việt Nam, kể cả một số người được cho là nhà nghiên cứu, vẫn chỉ nhìn vào một luận điểm duy nhất với tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng, vậy thì điều đó có thực sự đã có cái nhìn khoa học? Nếu chỉ nhìn vào một phần mà không nhìn vào tổng thể thì có khác gì “thầy bói mù sờ voi”. Vậy thì làm sao mà đã có thể khẳng định được mạnh yếu trong lập luận của mỗi bên?

Cuộc cãi vã này nếu chấm dứt thì kẻ thắng duy nhất lại là Trung Cộng. Chỉ một đòn “đàn chỉ thần công” này thôi đã hạ gục bao nhiêu sự hả hê của dư luận Việt Nam chỉ mới được hân hoan vài ngày trước đó.

Nếu các luật gia, nhà nghiên cứu người Việt đang ra sức cãi vã trên Facebook chịu khó tìm hiểu kỹ, thì tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một trong vài “tuyên bố” gây ra một vài sự bất lợi cho phía Việt Nam mà thôi. Tôi ví dụ nhé, còn tuyên bố của Cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm năm 1953, Tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam năm 1965. Thế nhưng, Trung Cộng thích nhất và hay xài nhất chính là tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng, cho dù, tuyên bố này mù mờ hơn rất nhiều và chưa chắc đã có pháp lý mạnh hơn so với tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm và của Bộ Ngoại Giao năm 1965.

Vấn đề cần phải nói trong câu chuyện biển Đông hôm nay, không chỉ là chủ quyền của ai? Cái mà Việt Nam có nhiều bằng chứng chủ quyền nhất là Hoàng Sa thì giờ Trung Cộng đã nắm trọn. Lấy lại Hoàng Sa trước một Trung Cộng đầy xảo quyệt và gian manh thì chỉ có thể sử dụng “gươm súng”, vì thế vẫn còn là một tương lai xa vời vợi, cho dù chúng ta vẫn biết rằng chỉ còn 1% hy vọng, chúng ta vẫn phải luôn kiên trì đeo đuổi.

Hình minh hoạ. Người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm đảo. Hà Nội ngày 9/12/2012
Hình minh hoạ. Người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm đảo. Hà Nội ngày 9/12/2012 Reuters

Về Trường Sa thì Việt Nam thông tin chính thức cho biết là đang nắm giữ 21 thực thể, trong đó có 9 “đảo nổi”, 12 “đảo chìm”, tổng cộng là 33 điểm đóng quân. Trong vấn đề chủ quyền tại Trường Sa thì giả dụ, nếu điều tệ hại nhất xảy ra là tất cả các lập luận chủ quyền của Việt Nam bị “vô hiệu” thì theo nguyên tắc “chiếm hữu theo thời hiệu” trong luật quốc tế, được nhắc lại trong Án lệ Pedra Branca năm 2008 thì ai đang giữ cái gì sẽ được tiếp tục giữ cái đó như Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) đã phán xử trong Vụ Pedra Branca. Cho dù Malaysia kế thừa chủ quyền từ Tiểu vương Johor, đã thực thi chủ quyền sớm nhất trên Pedra Branca, tuy nhiên vì Singapore đang chiếm hữu nó trong thực tế, chiếm hữu bằng biện pháp hoà bình, nên Singapore được ICJ trao quyền tiếp tục sở hữu Pedra Branca.

Với tình hình hiện nay, Việt Nam “giữ lại những gì mình đang có” đã là đầy khó khăn, chứ giấc mơ “lấy lại những gì đã mất”, thu hồi lại Hoàng Sa và toàn bộ Trường Sa, sẽ là câu chuyện của một tương lai xa vời.

Điều cấp bách đáng nói hơn cả vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa ở đây là việc Trung Quốc đang xâm chiếm gần hết vùng biển của Việt Nam, trong đó có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là những vùng biển mà Việt Nam đương nhiên có quyền hưởng trong việc thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán tại các vùng này. Các tài nguyên dầu mỏ, khí đốt, băng cháy, các loại hải sản, các tuyến vận tải biển… trên các vùng này phải thuộc về Việt Nam. Thế nhưng, mọi người đang thấy đó, Trung Quốc ngày trước vẽ ra tấm áo “dơ dáy” là “đường lưỡi bò”, bây giờ lại khoác lên tấm áo “Tứ Sa” hòng che đậy cho dã tâm chiếm đoạt các vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia khác.

Tuy nhiên, vấn đề vùng biển này lại nằm trong quy định của Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (Gọi tắt tiếng Anh là UNCLOS). Và nhờ có UNCLOS, Việt Nam mới có lý do để đòi hỏi các vùng biển của chúng ta, chứ nếu không, chắc chúng ta có khi đã trở thành “nước không có biển” như anh bạn Lào vậy.

Vì thế, nếu giấc mơ nghiên cứu biển Đông với những vấn đề thực sự ảnh hưởng tới tương lai đất nước, thì có bao nhiêu việc phải làm, phải nghiên cứu. Người viết luôn ủng hộ các tranh luận khoa học để tìm ra các lập luận mới bảo vệ đất nước, nhưng cần nghiên cứu và tìm hiểu một cách thật sự khoa học, tránh rơi vào cuộc cãi vã triền miên không có lối thoát. Và trong lúc chúng ta đang cãi vã, thì kẻ thù đang từ từ gặm nhấm biển của chúng ta.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Ý kiến (8)
Share

Nguyen Huy

Sự thật đàng sau bức công hàm Phạm Văn Đồng

Sau khi Nhựt Bổn bại trận vào năm 1945-Các nước đồng minh muốn Nhật từ bỏ chủ quyền tất cả các vùng lãnh thổ và quần đảo bị Nhựt chiếm đóng trong đệ nhị thế chiến nên chính thức triệu tập môt Hội nghị về hòa bình và giải quyết những xung đột trong khu vực Thái Bình Dương . Hiệp Ước Hòa Bình Cựu Kim Sơn, the San Francisco Peace Treaty gọi tắt là SFPT được tổ chức tại thành phố San Francisco, California, Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng Chín năm 1951. Tại hội nghị này Nhựt Bổn và 51 quốc gia khác đã tham dự là “Argentina, Úc, Bỉ, Bolivia, Brazil, Campuchia, Canada, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Tiệp Khắc , Cộng hòa Dominica, Ecuador, Ai Cập, El Salvador, Ethiopia , Pháp, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Indonesia, Iran, Iraq, Nhật Bản, Lào, Li Băng, Liberia, Đại công tước Luxembourg, Mexico, Hà Lan, New Zealand, Nicaragua, Na Uy, Pakistan, Panama, Peru, Cộng hòa Philippines, Ba Lan , Ả Rập Xê Út, Liên Xô , Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên hiệp Nam Phi, Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Hoa Kỳ, Uruguay, Venezuela, Việt Nam.

Trong đó có ba nước cộng sản là Czechoslovakia (Tiệp Khắc), Poland (Ba Lan) và Liên Bang Xô Viết. Tuy Nhiên cả Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) lẫn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) đều không được mời tham dự, vì phía đồng minh có sự bất đồng trong việc công nhận tư cách quốc gia giữa hai nước Trung Hoa Dân Quốc và Trung Hoa cọng sản vừa mới chiếm toàn bộ đại lục. Chính vì sự cố này khiến vấn đề biển Đông trở nên bế tắc về sau.

Tại hội nghị lịch sử này, Nhựt Bổn xin chuyển giao quyền kiểm soát các lãnh thổ và các quần đảo trên Thái Bình Dương mà Nhựt đã chiếm trong đệ nhị thế chiến bao gồm lãnh thổ quốc gia Korea, nhượng địa Formosa (Đài Loan) và các quần đảo sau đây: Pescadores (Bành Hồ-Đài Loan), Southern Sakhalin, The Kurile Islands, the Spratly (Hoàng Sa) and Paracel (Trường Sa) Islands, Micronesia và Antarctica. Song sự xung đột về chủ quyền diễn ra gay gắt trên các đảo mà Nhựt trao trả như Takeshima/Dokdo, và các lãnh thổ thuộc phương Bắc ,the northern territories như quần đảo Diaoyu, quần đảo Senkaku, quần đảo Kurile và hai quần đảo vùng biển Đông là Hoàng Sa và Trường Sa - cũng nên biết các tên gọi đảo do Trung Quốc đặt theo lối chữ Giản Thể, Wade system như Nansha (South Sand-Nam Sa), Xisha (West Sand- Tây Sa), Dongsha (East Sand-Đông Sa) khác với lối Phồn Thể (Pin-Yin) mà Đài Loan thường gọi các đảo này là Tungsha (Đông Sa), Hsisha (Tây Sa)..

Trước khi hội nghị đi đến một bản dự thảo cuối cùng thì phía đồng minh có đưa ra vài bản dự thảo sơ bộ dựa vào các nghiên cứu của phía Hoa Kỳ trong thời điểm chiến tranh và trên tinh thần hiệp ước Yalta ký kết giữa ba cường quốc thắng trận sau đệ nhị thế chiến là Mỹ, Anh và Liên Xô phân định kế hoạch phát triển các nước bại trận thời hậu chiến. Những bản dự thảo này có nhiều chi tiết và phức tạp nhưng rất rõ ràng với các chi tiết phân chia vùng lãnh hải, lãnh thổ, đặt lại các tên đảo nhằm tránh xung đột sau này. Tuy nhiên trong bối cảnh thời kỳ chiến trạnh lạnh đang bùng phát nhất là cuộc chiến Triều Tiên xảy ra vào tháng 6 năm 1950 nên các chủ đích mang lại hòa bình lâu dài tương phản với chiến lược mới tương quan đến quyền lợi của Mỹ trong khu vực đặt biệt là hai nước Nhật và Phi Luật Tân sẽ trở nên các đồng minh quan yếu nhất của Mỹ và các nước đồng minh nhằm phi cọng sản hóa trong vùng.

Một bản dự thảo sau đó được gởi đến các nước để tham khảo và tu chính trước ngày diễn ra hội nghị. Về phía Trung cộng, nửa tháng sau khi SFPT khai mạc thì tân bộ trưởng ngoại giao bộ của chính quyền Trung + là Chu Ân Lai từ Bắc Kinh đã lên tiếng vào ngày 15 tháng 8, 1951 nguyên văn như sau: Zou Enlai, the foreign minister of the newly established People’s Republic of China, stated on August 15, 1951, that “ The draft treaty stipulates that Japan should renounce all rights to Nan Wei Islands (Spratly Islands) and the Xi Sha Islands (the Paracel Islands), but again deliberately makes no mention of the problem of restoring sovereignty over them: As a matter of fact….the entire Nan Sha Islands, Zhong Sha Islands and Dong Sha Islands, Xi Sha Islands and Na Wei Islands have always been China’s territory. Although they had not been occupied by Japan for sometime during the war of aggression waged by Japanese Imperialism, they were taken over by the then Chinese government following Japan’s surrender. The Central People’s Government of the People’s Republic of China hereby declares: Whether or not the United States – British draft treaty obtains provisions on this subject, and no matter how these provisions are worded, the inviolate sovereignty of the People of China over Nan Wei Islands (Spratly Islands) and Xi Sha Islands (the Paracel Islands) will not be in any way affected.”".Bản dự thảo hội nghị đã thừa nhận rằng Nhựt bổn nên trao trả toàn bộ chủ quyền các quần đảo Nan Sha Islands (Spartly Island-Hoàng Sa) và Xi Sha Island (Trường Sa) Nhưng một lần nữa tranh luận hội nghị đã không tập trung vào vấn đề vãn hồi chủ quyền trên toàn bộ quần đảo: Như các yêu cầu chủ yếu …toàn bộ quần đảo Nam Sa, Zhongsha, Đông Sa, Tây Sa và Nan Wei Islands luôn thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Mặc dầu chúng chưa hề bị chiếm đóng bởi Nhựt Bổn trong lúc cao trào xâm lược dâng cao bởi đế quốc Nhựt, chúng được kiểm soát bởi chính phủ Trung Hoa tiếp theo sau sự đầu hàng của Nhựt Bổn. Chính phủ trung ương nước Cọng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa long trọng tuyên bố: Có hay không bản dự thảo hội nghị do phía Hoa Kỳ, Anh Quốc được đề trình trong chủ đề này và bất cứ điều ghi nhận nào thì chủ quyền bất khả xâm phạm của Trung Quốc trên Nan Wei Islands (Spartly-Hoàng Sa) và Xi Sha (The Paracel Islands – Trường Sa) sẽ không bị tác động bằng bất cứ giá nào."

Về phía phái đoàn Quốc Gia Việt Nam có thủ tướng Trần Văn Hữu dẫn đầu đã được mời phát biểu sau cùng vào ngày 8-9-1951. Trong bài phát biểu trước hội nghị, thủ tướng Trần Văn Hữu nhấn mạnh: “..And as we must frankly profit from all opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam.”

“..Và chúng tôi phải lấy thẳng các lợi ích từ tất cả mọi cơ hội được dành cho chúng tôi để chặn đứng những bất đồng, chúng tôi xác quyết chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn đã luôn thuộc về Việt Nam.”

Lời phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu đã không bị bất cứ đại diện phái đoàn nào trong hội nghị phản đối và được ghi vào biên bản, chứng tỏ hội nghị đồng ý với quan điểm của chính phủ QGVN.

Cuối cùng, hội nghị đi đến việc ký kết bản Treaty of Peace with Japan (Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản) cũng trong ngày 8-9-1951 với 48 phiếu thuận, trừ ba nước cộng sản, đồng minh của Trung Cộng, không chịu ký. Bản hiệp ước có hiệu lực ngày 28-4-1952.

Bản hiệp ước San Francisco gồm 7 chương, 27 điều, trong đó khoản (f), điều 2, chương II, liên hệ đến Việt Nam nguyên văn như sau: “Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracels Islands.” (United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, pp. 45 - 164.) (Nhật Bản từ bỏ mọi quyền chiếm hữu, trên danh nghĩa và khiếu kiện đối với quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo Paracels (Hoàng Sa), nghĩa là Nhật Bản trả hai quần đảo nầy trở về với chủ cũ, mà thủ tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố chủ quyền trước hội nghị và không một đại diện nào trong số 52 nước tham dự phản đối.

trong khi đó thì phái đoàn cs của VNDCCH đã ủng hộ lập trường phía Trung Quốc. xem trang 156 cuốn sách của giáo sư Kimie Hara chuyên về Đông Nam Á tại ĐH Renison viết trong cuốn sách nổi tiếng thế giới -The Cold War Frontiers-Chiến tranh lạnh và Những giới tuyến.

On July 30, 1971, the Republic of Viet Nam issued a “ Declaration of the Sovereignty of the Republic of Viet Nam over the Archipelagos of Paracels and Spratly” indicating five points in favor of its claim of sovereignty:

Vào ngày 30 tháng Bảy năm 1971. Chính phủ VNCH lại ra tuyên cáo về chủ quyền của Việt Nam Cọng Hòa trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đồng thời nêu ra năm điểm chính về chủ quyền lãnh thổ như sau:

1. Vào năm 1802, hoàng đế Gia Long cho thành lập “ đội Hoàng Sa” để sưu tầm sản vật trên các quần đảo đó

2. Vào năm 1830 dưới thời hoàng đế Minh Mạng, quần đảo Trường Sa được bao gồm vào lãnh thổ Đai Nam và được vẽ trên Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ.

3. Vào năm 1930 và 1933, thay mặt hoàng đế Việt Nam, chính phủ Pháp đã chánh thức tiếp quản quyền sở hữu quần đảo Trường Sa cùng thông cáo quyền sở hữu trên công báo vào ngày 29 tháng Chín, 1933

4. Trong năm 1951 tại hội nghị hòa bình Cựu Kim Sơn, Nhật Bản đã trao trả tất cả lãnh thổ bị Nhật chiếm đóng trong đệ nhị thế chiến bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phái đoàn Việt Nam Cọng Hòa tại nghị hội đã ra một bản tuyên bố về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản tuyên bố không bị bất cứ sự chống đối nào của các quốc gia tham dự hội nghị từ 51 đại diện các quốc gia đó.

5. Vào ngày 22 tháng Mười năm 1956, tổng thống Việt Nam Cọng Hòa đã đặt quần đảo Trường Sa dưới quyền hành chánh của tỉnh Bà Rịa.

Căn cứ vào những sự kiện lịch sử quan yếu như trên, nước Việt nam Cọng Hòa là nước duy nhất có đủ quyền sở hữu tối hợp pháp trên toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và bởi vì, VNCH đã thực thi đầy đủ các điều kiện đưa ra trong công ước 1885 liên quan đến quyền thiết lập và điều hành lãnh thổ một cách toàn vẹn theo đúng công pháp quốc tế.

Riêng nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa thì hai năm sau khi Hồ Chí Minh tái thành lập chính phủ tại Hà Nội vào tháng Sáu, 1956 theo phía Trung Quốc thì thứ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm đã thông báo cho Li Zhimin, tùy viên nội vụ của tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội nguyên văn như sau “ according to Viet Nam data, the Xisha and Nansha Islands are historical part of Chinese territory.” Tạm dịch: “ Chiếu theo dữ liệu của phía Việt Nam thì Tây Sa và Nam Sa là phần lịch sử của lãnh thổ Trung Hoa”

Vào ngày 14 tháng Chín năm 1958, 10 ngày sau khi Trung Quốc đơn phương công bố chủ quyền lãnh hải trên 12 hải lý ven biển và các quần đảo Nansha, Xisha, Dongsha… thì thủ tướng chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa, Phạm Văn Đồng ra công hàm gửi thủ tướng quốc vụ viện Trung Quốc, Chu Ân Lai chính thức ủng hộ công hàm của phía Trung Quốc công bố ngày 4 tháng Chín, 1958.

Như thế đã rõ ngay từ đầu phía bắc Việt đã biết rõ Hoàng Sa, Trường Sa của VN nhưng vẫn công nhận nó thuộc về Trung Quốc.

References : https://dised.danang.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=oMsJ0Yj9HVM%3D&tabid=61&fbclid=IwAR1KVL3f9msPf01RArHADej8jSedR8Q8OYOMj0E-du5P-bJspHj6GJhpbYY

https://apjjf.org/2012/10/17/Kimie-Hara/3739/article.html

https://commons.wikimedia.org/wiki/File:1958_diplomatic_note_from_phamvandong_to_zhouenlai.jp

https://scholarlycommons.law.case.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1644&context=jil

27/04/2020 14:01

Tran Taylor

Ông Phạm văn Đồng đại diện cho Bắc Việt trong thời đó (nói rõ hơn là đại diện cho Đảng) câm thù người cùng máu mủ là Nam Việt(Việt Nam Cộng Hòa) hơn là Trung Cộng và tỏ cảm tình một cách cộng sản với Đảng cộng sản Trung Quốc.
Hậu quả những tuyên bố này của ông Đồng (hay rỏ hơn là của Đảng) bây giờ mới lòi mặt nạ cho 90 triệu nhân dân rõ cái "yêu nươc' là phải đánh đuổi bọn ngụy quân ngụy quyền mien Nam để thống nhất đất nước mà giao cho Trung cộng trọn gói.
Chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mới danh chánh ngôn thuận để tuyên bố chủ quyền mà thôi !

25/04/2020 12:42

Qui Nguyen

nơi gửi Garden Grove

ĐA SỐ NGƯỜI DÂN VIỆT KHÔNG HIỂU . . . CÔNG HÀM BÁN NƯỚC CỦA PHẠM VĂN ĐỒNG LÀ BÁN NƯỚC CỦA QUỐC GIA KHÁC
CÔNG HÀM BÁN NƯỚC CỦA PHẠM VĂN ĐỒNG 1958 KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ: HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA THUỘC LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI CỦA CHÍNH QUYỀN MIỀN NAM VIỆT NAM ( VIỆT NAM CỘNG HÒA ) - VÍ DỤ VỀ PHÁP LUẬT : ANH KHÔNG THỂ NÓI CĂN NHÀ CỦA HÀNG XÓM LÀ CỦA ANH – CÓ NGHĨA CÔNG HÀM BÁN NƯỚC CỦA PHẠM VĂN ĐỒNG LÀ BÁN NƯỚC CỦA QUỐC GIA KHÁC.
Dzui hỉ ! ! ! Phạm Văn Đồng bán nước của quốc gia khác và có giấy tờ đàng hoàng - Đề nghị TT Nguyễn Xuân Phúc bán nước Đài Loan cho Mỹ kèm theo giấy tờ và nhớ đóng dấu - Biết đâu Mỹ cũng OK - bên cạnh đó bán luôn Campuchia và Thailan và thêm một số nước chung quanh - Bảo đảm giàu to và là tỷ phú giàu nhất thế giới. . . .

25/04/2020 12:35

Thuysy

nơi gửi Thuysy

Mỗi ngày qua đi, thế giới càng thấy Trung quốc hung hăng, mất hết niềm tin và để lại hình ảnh xấu xa trên trường quốc tế. Tầm nhìn hạn hẹp của đảng cộng sản Trung quốc và lối sống rất ấu trĩ, tất cả cái gì cũng chỉ muốn đó là của Trung quốc và mọi nước muốn làm gì cũng phải xin phép Trung quốc. Trung quốc tiếp tục chơi bài "không đánh mà thắng", không đánh mà chiếm được đảo để sau này Trung quốc lật lọng với thế giới rằng, Trung quốc "chiếm hữu hòa bình". Thật ra kẻ to xác như Trung quốc ngó vậy chứ rất sợ chết và không dám đánh với bất cứ nước nào mà chỉ đem to xác ra hù dọa và vừa hù dọa vừa theo dõi rồi mới có động thái tiếp theo.

25/04/2020 05:03

Beclin

nơi gửi Beclin

Trung quốc âm mưu, thủ đoạn, tàn ác, nuôi mộng bá chủ toàn cầu nhưng còn cái gai không nuốt được đó là vẫn còn một siêu cường hàng đầu thế giới (Mỹ) và đồng minh như Anh, Pháp, Đức, Italia. Để triệt phá siêu cường và đồng minh này Trung quốc phải tìm mọi cách làm tiêu hao thật nặng năng lực đến mức không còn đủ sức chống cự lại với một Trung quốc rộng lớn với quy mô thế giới kể cả bắn virus Corona vào lãnh thổ các nước này.

24/04/2020 20:07

Xem tất cả ý kiến.

Xem toàn trang