Sai lầm chính sách chủ yếu do lãnh đạo chủ quan duy ý chí

Bài phân tích của TS. Phạm Quý Thọ
2021-09-20
Share
Sai lầm chính sách chủ yếu do lãnh đạo chủ quan duy ý chí Hình minh hoạ: Công nhân dựng tấm biển chào mừng Đại hội 13 Đảng Cộng sản Việt Nam trên đường phố Hà Nội hôm 12/1/2021.
Reuters

Sau thời kỳ “bất ổn nội bộ”, củng cố chế độ được Đảng Cộng sản xác định là nhiệm vụ trọng tâm và người đứng đầu Đảng dường như đã giành được quyền lực tối đa. Tuy nhiên, cải cách thị trường không thể không tiếp tục, bởi tăng trưởng kinh tế là cách tốt nhất để đảm bảo duy trì tính chính danh chế độ và niềm tin của người dân vào lãnh tụ sau khủng hoảng kinh tế vĩ mô và thể chế kéo dài. Trong bối cảnh như vậy, giới lãnh đạo thường hay thể hiện quyền lực tuyệt đối, quyết tâm huy động sức mạnh cả hệ thống chính trị cho tăng trưởng. Đó cũng là lúc để yếu tố chủ quan duy ý chí phát tác, những chính sách không dựa trên thực tế và các quy luật khách quan sẽ dễ mắc sai lầm, cản trở cải cách thị trường và dẫn đến những hậu quả khó lường.

Chủ quan duy ý chí đã được coi là căn bệnh có khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu ý chí và vai trò lãnh tụ, xa rời quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về tri thức khoa học. Biểu hiện của căn bệnh thường là lối suy nghĩ và hành động độc đoán, nóng vội, chạy theo ý chí chủ quan người đứng đầu khi hoạch định những chủ trương, chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức thực hiện theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan. Ví dụ như: mục tiêu đặt ra quá cao, biện pháp không có tính khả thi… Căn bệnh chủ quan duy ý chí xuất phát từ nguồn gốc lịch sử, xã hội mang tính bản chất cách mạng của chế độ đảng toàn trị. Thực tế quá trình chuyển đổi kinh tế sang thị trường trong hơn một phần ba thế kỷ qua đã cho thấy điều đó, bởi vậy sự cảnh báo là cần thiết để có thể tránh những sai lầm. Dưới đây là hai chính sách duy ý chí điển hình.

Trước hết, cuộc cải cách Giá – Lương – Tiền được tiến hành vào nửa cuối những năm 1980s, được coi là thất bại chính sách lớn nhất, sự thử thách đầu tiên đối với chế độ khi “chập chững” chuyển đổi kinh tế sang thị trường. Sự yếu kém nhận thức về thị trường đã dẫn đến các giải pháp chính sách cực đoan. Về giá, phải tính toán đầy đủ giá các mặt hàng do Nhà nước cung cấp, do nông dân, thợ thủ công sản xuất theo giá dựa trên chi phí sản xuất. Để tiện cho tính toán, các mức giá trên được quy ra thóc, được xác định bởi các chuyên gia, bình quân là 25 đồng/kg. Kết quả là mức giá mới của nhiều mặt hàng so với mức giá cũ tăng lên nhiều lần, chẳng hạn giá xi măng ghi nhận lúc đó tăng tới 12,5 lần. Về lương, các nhà lãnh đạo đề nghị tăng lương thêm 20%. Về tiền, để đáp ứng giá mới và lương mới, phải in thêm tiền để đảm bảo tổng lượng tiền trong lưu thông. Nhưng thời điểm đó, Việt Nam không tự in được tiền mà phải nhờ nước ngoài in, bởi vậy những nhà cải cách đã đưa ra chủ trương đổi tiền để đỡ tốn kém và kịp thực hiện. Mệnh giá đồng tiền mới đã giảm đi 10 lần để khối lượng tiền phải in ra ít hơn…

2018-01-31T154250Z_1409931307_RC13DB2487A0_RTRMADP_3_GLOBAL-FOOD.JPG
Người bán rau quả ở một chợ tại Hà Nội hôm 31/1/2018. Reuters

Quyết định chủ quan duy ý chí của các lãnh đạo cộng sản lúc đó đã không thể thay thế sự vận hành của thị trường, quy luật cung cầu, vốn đã được Adam Smith gọi là “bàn tay vô hình” từ thế kỷ 18. Một phần nguyên nhân thất bại cuộc cải cách này có thể do ảnh hưởng bởi “liệu pháp shock”, vốn được nhấn mạnh trong cải cách trong các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu vào đầu thập niên 1980s. Hậu quả là xã hội rối loạn, đời sống người dân cùng cực và nền kinh tế đứng trước bờ vực sụp đổ. Mức lạm phát lên đến 774,7% năm 1986, trong đó đối với nông sản giá năm 1986 so với năm 1976 đã tăng tới 2000% và cho đến năm 1989 tỷ lệ lạm phát mới giảm xuống dưới 100%.

Thất bại chính sách mới gần đây thôi là chính sách tăng trưởng nóng vội trong những năm 2010s. Các nhà hoạch định chính sách cho rằng các mô hình Chebol Hàn Quốc hay các tổ hợp ở Nhật Bản đã tạo nên thành công kinh tế của các quốc gia này. Họ quyết định thành lập các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước, như “những quả đấm thép” trụ cột của nền kinh tế với hy vọng cho thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, sự sai lầm chủ yếu ở sự khác biệt sở hữu của các tập đoàn kinh tế, ở Hàn Quốc và Nhật Bản là sở hữu tư nhân, còn ở Việt Nam chúng thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân.

Như hậu quả không thể tránh khỏi, thiệt hại về kinh tế rất nặng nề, mức lạm phát năm 2012 đã lên tới 22%, vỡ bong bóng bất động sản, khủng hoảng hệ thống ngân hàng tài chính, nợ xuất  và rối loạn trong nhiều lĩnh vực xã hội, văn hoá và giáo dục… Hàng chục các dự án vẫn đang “đắp chiếu” cho đến nay chưa thể giải quyết. Vụ án Vinashin năm 2014 là một trong các vụ án kinh tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam, liên quan tới số tiền thất thoát rất lớn. Chỉ tính riêng một dự án mua tàu Hoa Sen đã gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền hơn 469,5 tỷ đồng. Một loạt các quan chức đã bị xét xử với tội danh "cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng". Nhiều tập đoàn khác như Vinalines, Dầu khí, Cao su, Hoá chất… cũng xảy ra tình hình tương tự. “Bất ổn” về thể chế đã và đang diễn ra, một bộ máy cai trị yếu kém với “bộ phận không nhỏ” quan chức tha hoá quyền lực, tham nhũng, suy thoái đạo đức, nhóm lợi ích, khủng hoảng niềm tin… Bài học sâu xa cần rút ra chính là tài sản công là mảnh đất màu mỡ cho trục lợi và tham nhũng, và sự níu kéo ý thức hệ chủ nghĩa xã hội đã huỷ hoại nhiều chính sách kinh tế. 

000_Del6108428.jpg
Hình chụp của TTXVN tại phiên toà hôm 30/3/2012 xét xử các cựu lãnh đạo Vinashin ở Hải Phòng. AFP

Chế độ này đã và đang mất cả thập kỷ, hai Đại hội Đảng 12 và 13, để khắc phục dần các hậu quả. Trước hết, về cải cách chính trị giới lãnh đạo đã tập trung củng cố chế độ theo hướng tập trung quyền lực, thay đổi tổ chức, các quy tắc vận hành đồng thời tăng cường ngăn chặn tình trạng suy thoái của quan chức, trừng phạt bất tuân và chống tham nhũng. Khi quyền lực tuyệt đối được thiết lập cho cương vị người đứng đầu chế độ và nhóm chóp bu thì cũng là lúc những biểu hiện của căn bệnh chủ quan duy ý chí phát tác.

Các lãnh đạo khuyếch trương Đại hội 13 là “rất thành công”. Về kinh tế, trong Văn kiện Đại hội, chủ trương, chính sách tổng quát, người ta đưa ra các chỉ tiêu về kinh tế cao, nhưng mang nặng tính chính trị. Mức tăng trưởng GDP hay thu nhập bình quân đầu người được ấn định cho các mốc thời gian như kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, năm 2030, là 8.000 USD (nếu tính theo sức mua tương đương khoảng 15.000 USD), hay 100 năm ngày thành lập nhà nước, năm 2045, là 20.000 USD. Một tầm nhìn chủ quan về tương lai hơn là dự báo mang tính khoa học, bởi vì các yếu tố tác động là không thể lường hết được. Ví dụ nhãn tiền, đại dịch COVID-19 đang thử thách sức chịu đựng của nền kinh tế mong manh và cuộc sống người lao động. Nó có thể huỷ hoại mục tiêu kế hoạch năm năm, có nghĩa là đe doạ các mục tiêu chiến lược dài hơn.

Trên truyền thông Nhà nước các khẩu hiệu “đi tắt đón đầu”, “Việt Nam hùng cường”… được nói và viết với tần suất cao. Việc tìm kiếm “mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững” được các nhà lãnh đạo kêu gọi, nhưng là nhiệm vụ bất khả thi. Giới lãnh đạo đang níu kéo “kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội” như một mô hình phát triển, nhưng không mấy thuyết phục bởi các căn cứ khoa học và thực tiễn của chủ trương chính sách như vậy. Cải cách thị trường cần có tư duy thị trường thay vì duy ý chí.

Chủ quan duy ý chí là căn bệnh mãn tính của chế độ khi các sai lầm cứ lặp lại mà không có ai chịu trách nhiệm bởi nó gắn liền với quyền lực tuyệt đối núp dưới cơ chế lãnh đạo tập thể tinh vi. Năm 2012, Đảng đã có những nỗ lực “quy trách nhiệm người đứng đầu” tại Hội nghị TƯ 6 khoá 11 nhưng không thành công. Năm 2018 Quốc hội khoá 14 đã “cản đường” Dự án đặc khu hành chính kinh tế trước sức ép dư luận xã hội. Tuy nhiên, cải cách chính trị trong mấy năm gần đây đã tăng cường quyền lực tập trung cao hơn thay vì tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua đối trọng hay phân quyền. Bởi vậy, cải cách thị trường vẫn phải tiếp tục để duy trì tính chính danh của chế độ, nhưng khả năng phát tác của căn bệnh này là rất lớn.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.

Duy Hữu, USA
Duy Hữu, USA says:
20/09/2021 12:06

Đảng " cách mạng ",
độc quyền đi làm " cắt mạng ".
Đảng " cắt mạng ",
độc quyền đi làm tiền " cách mạng ".

Đồng chí đi làm " cách mạng ",
Đồng chí đi " cắt mạng " đồng bào.

Đồng chí, nhưng không phải là đồng bào.
Đồng bào, nhưng không phải là đồng chí.

Đồng chí giết đồng bào, vì đồng tiền.
Đồng bào, đồng lòng, đồng tâm, diệt đồng chí.

Nguyễn Tuấn Anh
Nguyễn Tuấn Anh says:
20/09/2021 16:15

Ậy, chính vì vậy mà dân ta đã đứng lên "đánh cho Mỹ cút" theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh . TS Phạm Quý Thọ nói thế chứ nếu Đảng Cộng Sản mà hành xử như Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, dân mình, kể cả TS Phạm Quý Thọ, sẽ quyết đứng lên đấu tranh vũ trang để quét sạch chúng đi, và (lại) dựng lên 1 Đảng Cộng Sản chính hiệu con nai vàng Mác-Lê cho mà xem .

Tại sao ? Vì cách lãnh đạo của Đảng Cộng Sản rất hợp với dân trí mình, lại rất hợp với lịch sử nước mình . Chính vì vậy mà trí thức trong & ngoài nước, không ai muốn dựng lại chế độ VNCH phò Mỹ bài Trung hết . GS Nguyễn Đăng Hưng đấy, ngày xưa tham gia phong trào phản đối sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, nhất quyết không hợp tác với chế độ đô thị Saigon. Mà ổng là người mẫu mực nhá . Tại sao ta không học những trí thức như gs Nguyễn Đăng Hưng phản đối Mỹ can thiệp quân sự ở biển Đông ?

Nguyễn Nhơn
Nguyễn Nhơn says:
20/09/2021 21:19

VÌ SAO MÀ ĐẤT NƯỚC TANG THƯƠNG?

Chỉ vì cái “ Quyền sở hữu “ Tàn “ dân!”

Đêm hè Hoàng Liên Sơn nóng bỏng. Tù dật dờ học tập. “ Vì sao phải củng cố “ Quan hệ sản xuất ” trên Miền Bắc và cải tạo quan hệ sản xuất ở Miền Nam? “. Tù đội trưởng cầm tài liệu đọc. Đọc dài nhằng dài cuội chẳng ra giống gì. Đực làng Bưng Cầu phát nực, chứng nào tật nấy, ở tù vẫn nói ngang: Khoan, anh đọc hoài không ai hiểu cái gì. Yêu cầu nói dùm “quan hệ sản xuất” là gì cái đã. Đội trưởng ta ngắc ngứ gạt phắc: Quan hệ sản xuất là quan hệ sản xuất, có gì mà hỏi.
Nhác nhìn thấy thấp thoáng bên ngoài song sắt. Tên cán quản giáo thập thò ngó nghiêng. Đực ta tỉnh tuồng phang tiếp: Muốn nói quan hệ sản xuất, trước tiên nói về sản xuất. Nói sản xuất, trước hết là nguyên, vật liệu. Kế đến là máy móc, dụng cụ. Sau hết là phải có người làm.
Sản xuất công nghiêp, nguyên liệu là sắt, thép, hóa chất... Sản xuất nông nghiệp là phân bón, giống má. Trong nông nghiệp, thay cho máy móc là đất đai.
Nói về quan hệ sản xuất là nói về tương quan giữa các yếu tố sản xuất kể trên: Ai làm chủ nguyên liệu, máy móc, đất đai? Ai quyết định việc phân chia thành quả sản xuất?
Trong chế độ tư bản với “quyền tư hữu,” tư nhân chủ xí nghiệp quyết định lương bổng cho công nhân. Địa chủ quyết định tô tức cho nông dân.
Trong chế độ XHCN với “Quyền sở hữu toàn dân,” đảng , nhà nước thay tàn dân hành xử quyền làm chủ. Đảng phân phối cho công nhân, nông dân bao nhiêu, được bấy nhiêu, mặc dầu trên lý thuyết là: Làm theo khả năng, hưởng theo kết quả lao động.
Hiện tại trên miền Bắc, quan hệ sản xuất đặt trên nền tảng “sở hữu tập thể” với hình thức Hợp tác xã. Cho nên cần củng cố để tiến lên trình độ sở hữu toàn dân với qui mô quốc doanh: Nông trường quốc doanh thay cho HTX nông nghiệp...
Ở Miền Nam còn đang làm ăn cá thể, phải “cải tạo” thành tập đoàn sản xuất trên nền tảng “sở hữu tập thể!”
Thằng Đực vừa múa lèo giỡn mặt cán quản giáo. Bởi vì cả ngày lao động khổ sai, mệt tắt thở mà hổng cho ngủ, còn bắt học tập những điều cán ngố chưa thông, trong khi tù Miền Nam thuộc nằm lòng mà còn bắt học!

Thuật lại câu chuyện kể trên để cho thấy rằng: Giới trẻ có học Miền Nam biết rõ cọng sản là sai lầm, tai họa. Cho nên mới liều chết chiến đấu. Giữ được Tự do, no ấm cho đồng bào Miền Nam được 21 năm.

Bây giờ để cho thấy cái sai lầm, tai họa chết người của cái “sở hữu tàn dân” vô trách nhiệm, thử đối chiếu với xã hội Miền Nam sanh hoạt trên nền tảng tư hữu, kinh tế thị trường Tự do.

Miền Nam: Tư hữu – Kinh tế thị trường tự do

Ngày Miền Nam mới thu hồi Độc lập, dựng lên nền Đệ nhất Cộng hòa, giới làm việc điều hành guồng máy quản trị công quyền, nhận thức theo kinh nghiệm Âu châu, hệ thống công quản ( Régie nationale ) thường chậm chạp, yếu kém nên chỉ giữ lại 4 bộ phận Điện, nước, xe bus và hỏa xa để bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của người dân. Ngoại giả là tư nhân kinh doanh theo kinh tế thị trường tự do.
Ngay khi nhận thấy công quản xe bus lỗ lã, không kiến hiệu, chánh phủ đã mau lẹ giải tán.
Hơn thế nữa, chánh phủ chủ trương sở hữu hóa người dân để họ có phương tiện độc lập, phát triển đời sống. Tiêu biểu là chương trình “ sở hữu hóa “ tài xế taxi. Chánh phủ nhập cảng xe taxi bán trả góp cho tài xế lái xe taxi thuê. Thêm một chi tiết ở đây cho thấy sự ích lợi của chương trình nầy: Chủ xe cho thuê là loại xe cở nhỏ hiệu Renault, trong khi chương trình sở hữu hóa của chánh phủ là loại xe Dauphine tiện nghi và sang trọng hơn!
Chương trình “tư hữu hóa nông dân” còn vĩ đại hơn. Thời Đệ nhất Cộng hòa còn dè dặt, chỉ mua lại ruộng đất của chủ điền và bán lại cho nông dân trả góp. Qua Đệ nhị Cộng hòa thấy làm như vậy vừa chậm lại thêm nông dân dụ dự, không hăng hái hưởng ứng nên đi một bước dứt khoát: Truất hữu điền chủ có trên 100 mẫu ruộng và trả bằng công khố phiếu, rồi cấp phát miễn phí cho mỗi gia đình nông dân 3 mẫu đất theo chương trình “ Luật Người cày có ruộng.”
Chưa hết, chương trình tư hữu hóa nông dân còn tiếp tục. Sau hiệp định Paris 1973, khi tiếng súng giảm bớt, chánh phủ đẩy mạnh chương trình “khẩn hoang, lập ấp.” Sơ khởi, chánh phủ tổ chức di dân từ những khu vực nghèo miền Trung đưa vào các khu vực còn hoang dã, dựng cho mỗi hộ một căn nhà vách ván lợp tôn, cung cấp lương thực cho một năm để chờ tới mùa thu hoạch.
Mỗi gia đình được cấp nửa mẫu đất sơ khởi do nhà nước ủi quang. Phần còn lại, người dân tự khai phá.
Tóm tắt lại là: Trong khi cọng sản miền Bắc bần cùng hóa nhân dân, tịch thâu sản nghiệp tập trung vào tay của đảng thì Miền Nam làm trái lại: Nỗ lực tư hữu hóa người dân bằng mọi cách thế có thể thi hành được.
Cho nên Miền Nam thời ấy phát triển không kém gì Đài Loan, Đại Hàn mặc dầu quốc gia đang lâm chiến.
Sở dĩ được như vậy là bởi vì quốc dân Việt Nam long trọng tuyên ngôn trên Hiến Pháp Đệ nhị VNCH 1967:
“ĐIỀU 19
1- Quốc Gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu
2- Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân “

Bây giờ nhìn lại, vì sao mà đất nước tang thương, dân tình khốn khó như ngày nay?

CHXHCN: Sở hữu toàn dân – Kinh tế thị trường theo định hướng xhcn

Sở dỉ nền kinh tế xã nghĩa nó nhập nhằng nửa nạc, nửa mở, chẳng xác định được phương hướng là do cái điều 15 Hiến pháp 1992 nầy đây:
Điều 15Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Cái điều luật hiế(p) pháp nầy nó cũng giống như câu thần chú phù thủy: Tay trái cho đi, tay mặt léo lại. Khi mà cơ chế thị trường cho đi thì cái định hướng xã nghĩa rút lại. Cũng dzậy, khi cái sở hữu tư nhân đưa ra thì cái sơ hữu “tàn” dân rút dzô!
Rốt cuộc lại là: Xã nghĩa tàn dân léo qua léo lại vẫn u như kỷ. Cốt khỉ hườn cốt khỉ.
Nói rằng cái sở hữu tàn dân là vô trách nhiệm, bởi vì cha chung không ai khóc. Tập thể chỉ huy, cá nhân phụ trách nên không ma nào chịu trách, bởi vì như ba Dê nói: Đảng sai đâu, đánh đó. Nên hư gì thì đảng chịu chớ nó hổng trách nhiệm gì hết trơn. Nhưng mà đảng là ai? Khi nào giành phần ăn thì ta là đảng. Khi nào hư bại thì đảng là nhân dân, nhân dân là đảng, ai cũng có trách nhiệm nên không biết ai chịu trách nhiệm như cái “Hội đại” TW6 vừa rồi, ai cũng có lỗi, vậy người nầy vái người kia xin lỗi rồi huề.
Cái chế độ mà ai cũng chỉ huy mà không ai trách nhiệm như vậy không thể nào tồn tại được, bởi vì mạnh ai nấy cướp giựt, giựt riết một hồi dân chỉ còn cái khố lấy gì giựt tiếp? Như gia đình anh Đoàn Văn Vươn đó! Mười mấy năm trời gian khổ, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, một con , một cháu nhỏ đều vùi thây nơi cống Rộc, dời đê, lấp biển tạo nên hồ đầm nuôi thủy sản làm sinh kế. Công cuộc vừa thành khoảnh, cường quyề lang sói, nhân danh “quyền sở hữu tàn dân” ào vào cướp giựt. Nhà cửa chúng giựt sập. Người chúng bắt bỏ tù. Chồng cha tù trong khốn nạn. Vợ con nheo nhóc tù ngoài! Thảm cảnh người dân thấp cổ, bé họng là như vậy!
Cho nên khi thằng Đực Bưng Cầu thấy có ông bà trí thức cầu cao giở giọng đạo đức bà lang trọc bảo: Đất nước trải qua chiến tranh, đổ máu đã nhiều rồi! Thôi, cứ tranh đấu từ từ, từng bước, 10, 20 năm nửa cũng có tự do, dân chủ chắc ăn hơn, Đực ta chửi thầm trong bụng, giở giọng trả treo: Quí ông, bà ngồi trên cao ngó xuống mà coi. Mới hôm kia, 4 người đàn ông nhà Đoàn Văn Vươn bị mafia xã nghĩa cướp đầm, phá nhà mà lại bị tù tổng cọng 15 năm. Hôm qua, côn an Hải Phòng đi bắt sòng bài, rượt dân chạy một hồi thì thấy cái chú xã viên Quệ, 47 tuổi, mạnh cùi cuội như vậy mà nằm chết ngoẻo bên vệ đường, tay bị còng. Gia đình, chòm xóm ức lòng chở cái xác tội nghiệp vô “Quỉ ban xã “ khiếu nại.
Vậy đó, việc côn an “nhăn răng” giết hại dân hầu như hàng ngày như vậy làm sao người dân chịu được ngày nầy qua tháng khác, chờ cho tới 10 năm, 20 năm để quí vị trí thức ngồi cao thuyết phục trùm đảng ban ơn bố đức cho có tự do, dân chủ cho được?

Đôi lời thưa thỉnh

Quân Dân Cán Chính Miền Nam biết rõ ràng: Chiến tranh là chết chóc, đau thương, xương trắng máu đào. Hai trăm năm mươi ngàn tử sĩ đã nằm xuống. Mấy trăm ngàn đồng bào vô tội phơi thây. Vậy mà phải cắn răng, chằng con mắt, cầm súng đánh giặc cọng. Để làm gì? Chỉ là để gìn giữ lại nửa mảnh dư đồ của tổ tiên trước làn sóng xâm lăng của cọng sản Nga Tàu do tay sai Bắc Việt ào vào cướp phá. Để giữ Tự do, no ấm cho 17 triệu rưởi dân lành Miền Nam.
Thua trận, đi tù cs, xương trắng tù Miền Nam rải rác khắp núi rừng Việt Bắc!
Cái giá của cuộc chiến bảo vệ Tự do, Dân chủ thê thảm là như vậy đó!
Còn như ngày nay, bọn VGCS phao truyền: Quân Dân Cán Chính Miền Nam vì thù hận, chống cọng quá khích, từ sáng tới chiều. Một huynh trưởng QGHC nghe thấy, bảo: Chẳng những chống tới chiều mà còn tới tối. Khi cọng sản sụp đổ rồi vẫn còn chống, bởi vì nếu lơ là, tàn dư cọng sản ngóc đầu dậy như cs Putin bên Nga.
Thật ra, lời huynh trưởng là nhắc lại truyền thống chống cọng của Việt Nam Cộng Hòa, long trọng tuyên bố trên Hiến Pháp Đệ nhị Cộng Hòa 1967:
ĐIỀU 4
1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ

Đó là lý do vì sao mà chúng tôi chống lại mọi mưu toan thỏa hiệp với cọng sản để gọi là từng bước dân chủ hóa Đất nước.
Câu nói nầy có thể chỉ những người chưa từng cầm súng chiến đấu chống cọng sản mới thản nhiên nói như vậy được.
Những ai có kinh nghiệm với cọng sản đều biết: Mỗi khi bắt tay thỏa hiệp với cọng sản thì...từ bị thương tới chết.
Những thành phần Quốc gia tham dự cái gọi là Chánh phủ Liên Hiệp Đoàn Kết Quốc Gia 1946 bị bè lũ già hồ giết hại là một.
Chánh phủ Quốc gia Việt Nam tham dự Hội nghị Genève 1954 bị mất đi nửa nước về tay cọng sản là hai!
Việt Nam Cộng Hòa bị cưởng bức tham dự Hội nghị Paris 1973, Miền Nam bị cọng sản nuốt trọn là ba.

Những vụ lật lọng, giết hại cá nhơn người Quốc gia lu bù không kể.

Cho nên xin làm ơn, đừng nói với người Quốc gia chúng tôi về cái trò Hòa hợp Hòa giải, “đấu tranh chánh trị với cọng sản” mần chi.
Trước khi TT Nga Yeltsin nói câu bất hủ “ Cọng sản là bất trị. Phải loại trừ tận gốc” thì từ non nửa thế kỷ trước, Hiến pháp VNCH đã xác quyết trong điều 4 kể trên.

Trong hiện tại, nếu như “ sĩ khí rụt rè, gà phải cáo” thì xin làm ơn đứng ra một bên để cho những anh thư hào kiệt Việt Nam rộng đường tiến lên tiêu diệt loài sói lang cọng sản.

Để kết thúc, xin đọc Bình Ngô Đại Cáo cho các bạn trẻ nghe:

“ Việc Nhân Nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo
Như nước Việt ta từ trước vốn xưng văn hiến đã lâu
…..........................................................
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau song hào kiệt đời nào cũng có
…...............................................................
Đem Đại Nghĩa để thắng hung tàn, lấy Chí Nhân mà thay cường bạo
….....................................................................
Nhật nguyệt hối mà lại minh, kiền khôn bỉ mà lại thái
Nền vạn thế xây nên chắc chắn, thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu ”

Nguyễn Nhơn

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Xem toàn trang