Thương Phẩm Đảo Chiều?

Sau khi lên tới kỷ lục là hơn 147 đô la một thùng ngày Thứ Sáu 11 tháng Bảy, dầu thô lại hạ giá mạnh trong hai tuần liền. Hôm Thứ Hai mùng bốn tháng Tám đã tụt dưới 120 đô la một thùng, tức là giảm 19% trong có 17 ngày kinh doanh.
Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2008-08-06
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Giá xăng dầu liên tục tăng cao khiến nhiều gia đình phải cắt giảm chi tiêu, hạn chế những chuyến đi chơi xa. AFP PHOTO
Giá xăng dầu liên tục tăng cao khiến nhiều gia đình phải cắt giảm chi tiêu, hạn chế những chuyến đi chơi xa. AFP PHOTO AFP PHOTO
Đồng thời, giá thương phẩm cũng hạ nhiệt, bình quân giảm 10% nội trong tháng Bảy, là hiện tượng chưa từng thấy kể từ năm 1980. Liệu kinh tế toàn cầu có hy vọng thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng vì nguyên nhiên vật liệu tăng giá không?

Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu vấn đề qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

Việt Long: Xin chào ông Nghĩa. Thứ Hai vừa qua, dầu thô trên thế giới đã sụt giá dưới 120 đồng một thùng sau khi lên tới đỉnh cao là 147 đồng vào ngày 11 tháng Bảy. Giá cả một số nguyên nhiên vật liệu và ngũ cốc như ngô bắp cũng có chiều hướng sút giảm đáng kể trong tháng Bảy khiến dư luận cho là cơn sốt giá cả thương phẩm có thể thuyên giảm. Chương trình chuyên đề kỳ này sẽ cùng tìm hiểu về sự thăng trầm giá cả đó, và nhất là ảnh hưởng của nó tới các nền kinh tế châu Á, trong đó có Việt Nam. Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là vì sao mà giá thương phẩm lại tăng mạnh rồi giảm mạnh như vậy sau khi đã lên tới những đỉnh cao kỷ lục?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta có thể đang bước qua một giai đoạn điều chỉnh với những thăng giáng hay lên xuống thất thường vì vậy mà mình nên thận trọng theo dõi để khỏi bị lạc điệu và lỗ lã trong tính toán kinh tế của quốc gia và suy tính kinh doanh của xí nghiệp. Trong giai đoạn điều chỉnh ấy, thương phẩm có thể sụt giá mạnh và đô la tăng giá, tức là trái ngược với xu hướng người ta đã quen từ năm ngoái nên dễ bị lỗ lã bất ngờ.

Nguyên nhân

Việt Long: Nguyên nhân vì sao mà trong có mấy tuần giá cả thương phẩm lại sụt mạnh như vậy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về lý do vì sao thì tôi xin nhắc lại điều đã trình bày trước đây rồi ta mới tìm hiểu tiếp về nội dung, về thực chất của sự sụt giá.

Thứ nhất, khi mức cung cầu quá căng thẳng vì số cầu quá lớn mà khả năng cung ứng lại vừa sát, thì bất cứ yếu tố thời sự hay tin tức nào có thể hạn chế số cung cũng làm giá tăng vọt. Khi thấy giá cả tăng vọt thì các thị trường bèn thủ thế trong giao dịch mua bán theo xu hướng tăng giá nên càng đẩy giá tới mức kỷ lục như ta thấy. Bây giờ, cơn sốt giá cả đã gây hiệu ứng tai hại là làm kinh tế thế giới có thể bị suy trầm, tức là sản xuất sút giảm, đi cùng nạn lạm phát là vật giá gia tăng. Hiệu ứng bất lợi đó đang làm giảm số cầu về thương phẩm.

Trong hoàn cảnh đó, bất cứ tin tức hay biến cố nào có thể nâng số cung hoặc giảm số cầu đều khiến giá sụt mạnh, có khi còn mạnh hơn đà gia tăng vừa qua. Thí dụ là dầu thô tuột dưới giá 120 đồng một thùng sau khi dư luận thấy rằng trận cuồng phong Edouard tại Vịnh Mexico gần Hoa Kỳ lại không nổi thành bão lớn có thể quét ngang khu vực chế biến xăng dầu của Mỹ. Đó là một.

Yếu tố thứ hai là vụ đối đầu về võ khí nguyên tử giữa Iran với Hoa Kỳ và Âu Châu không suy đồi thành khủng hoảng về an ninh, thậm chí xung đột trong vùng Vịnh Á Rập. Hai tin rất nhỏ ấy lại có tác dụng lớn là làm dầu thô sụt giá mạnh hơn.

Nhưng lý do chính khiến các thương phẩm đều có thể hạ giá là vì kinh tế thế giới không thể chịu đựng nổi tình trạng giá cả tăng gấp hai gấp ba trong có hai năm, và đây đó đã có triệu chứng hụt hơi và bị khủng hoảng khiến số cầu sẽ giảm, làm giá cả giảm theo.

Sự đàn hồi  

Việt Long: Nhưng thưa ông, liệu tình trạng giảm giá này có kéo dài và nhất là có giảm đủ mạnh để cứu vãn tình hình hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng mà kinh tế học gọi là sự đàn hồi hay co giãn rất cao của giá cả so với khối lượng sản phẩm. Nói cho dễ hiểu là nếu số cầu về sản phẩm mà giảm một thì giá cả có thể giảm gấp năm bảy lần; không thấy trước thì ta sẽ bị lỗ nặng.

Tôi xin đơn cử một thí dụ diễn đản này đã nói tới nhiều lần. Sau vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997, sản xuất sa sút đã đánh hạ số cầu về dầu khí mất 10% trên thế giới, nhưng giá dầu thô khi ấy lại giảm tới 75%, giảm gấp bảy lần mức sút giảm của số cầu. Tất cả các nước sản xuất và bán dầu đều nhớ bài học đó vì họ bị điêu đứng khi giá dầu thô sụt dưới 10 đồng một thùng vào năm 1999.

Có hai thí dụ khác cũng đáng chú ý về giá dầu. Năm 1991, khi Hoa Kỳ tấn công Iraq để giái cứu xứ Kuweit vào ngày 17 tháng Giêng, giá dầu đã tăng mạnh, nhưng lập tức giảm và giảm thấp hơn giá nguyên thủy. Trường hợp kia là giá dầu sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 tại Mỹ đã tăng vọt nhưng lại sụt mạnh trong có vài tuần dù khi đó Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tấn công A Phú Hãn, tức là xứ Afghanistan.

Trở lại chuyện bây giờ, ngày nay ngần ấy đầu máy kinh tế thế giới từ Hoa Kỳ tới Nhật Bản, Âu Châu và cả Trung Quốc, đều bị đe doạ suy trầm vì năng lượng quá đắt, nên các nước bán dầu e sợ giá dầu sẽ bóp nghẹt kinh tế và giết chết con gà đẻ trứng vàng của họ. Nếu giới đầu tư vào thị trường thương phẩm theo thể thức có hạn kỳ, gọi là futures market, mà thấy giá hạ khi họ đã lỡ mua trước với giá cao thì sẽ sợ bị lỗ nên lập tức bán tháo khiến giá hạ còn nhanh và mạnh hơn khi tăng. Như hôm Thứ Ba vừa qua, dầu thô đã sụt tới giá 118 đồng một thùng.

Mỹ kim sẽ tăng giá trong tương lai?

Việt Long: Vừa rồi, ông còn dự báo là Mỹ kim có thể sẽ tăng giá trong tương lai, vì sao lại như vậy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì một lý do cũng dễ hiểu thôi. Đô la Mỹ đã sụt giá mạnh từ nhiều năm đến độ nhiều quốc gia còn tính đến việc xả bớt đô la trong khối dự trữ ngoại tệ để khỏi bị lỗ. Nhưng, khi nói Mỹ kim sụt giá là ta so sánh tiền Mỹ với các ngoại tệ khác, như đồng Euro Âu châu hay đồng Yen của Nhật, đồng Bảng của Anh, đồng Phật lăng của Thụy sĩ, v.v...

Dù cả thế giới nói nhiều tới khủng hoảng muôn mặt tại Hoa Kỳ, một phần vì là một năm tranh cử tại Mỹ nên các chính khách ưa báo động và gây hốt hoảng, người ta đang khám phá ra là các nền kinh tế kia, từ Âu Châu tới Nhật Bản và Trung Quốc, đều đang bị vấn đề còn nghiêm trọng hơn kinh tế Mỹ.

Lúc đó thiên hạ mới nghĩ lại là dầu gì thì tiền Mỹ vẫn an toàn hơn cả. Mỹ kim sở dĩ trở nên mạnh hơn chỉ vì các ngoại tệ khác bị yếu đi! Nếu Mỹ kim hết sụt mà lên giá thì dầu thô giảm giá càng mạnh vì tiền Mỹ là phương tiện giao hoán chủ yếu trên thị trường năng lượng của thế giới.

Việt Long: Tổng kết lại thì sau hai năm lên giá vùn vụt, thị trường thương phẩm có thể đảo chiều trong giai đoạn tới có phải không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thật ra, ít ai dám dự đoán và khẳng định chiều hướng tương lai của loại sản phẩm sinh tử là lương thực hay loại sản phẩm chiến lược là dầu khí, nhưng chắc chắn là thị trường sẽ thăng giáng rất mạnh, lên xuống rất bất ngờ, và nếu sụt giá thì sụt giá nhanh hơn là khi tăng giá. Vì vậy người ta nên cảnh giác và theo dõi kỹ để khỏi bị hụt chân lỗ vốn.

Bài học cho các nước Á Châu...

Việt Long: Bước qua phần kế tiếp là điều thính giả chờ đợi, thưa ông các nước Á châu có thể rút tỉa được bài học gì từ cơn sốt giá cả vừa qua?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Dù dầu thô đã sụt dưới 120 đồng và có thể còn sụt mạnh từ tháng này tới đầu năm sau, nhưng ở khoảng 90-100 đô la một thùng thì vẫn là quá cao và vẫn là một sức ép đáng kể trên mặt trận lạm phát.

Khi các nước Đông Á gặp bài toán lưỡng nan là sản xuất suy trầm và vật giá gia tăng, giới lãnh đạo đã tranh luận về ưu tiên đối phó. Đa số, kể cả Việt Nam, đều nói tới yêu cầu ổn định vật giá tức là giải trừ lạm phát, nhưng thực tâm thì vẫn muốn duy trì một tốc độ tăng trưởng cao.

Chưa kể là bên trong cơ chế kinh tế và chính trị, họ cũng chẳng kiểm soát nổi tình hình. Khi thấy giá thương phẩm có thể sút giảm, họ càng dễ lơ là với mục tiêu kềm hãm lạm phát. Và tranh luận hay mâu thuẫn chính trị càng dễ bùng nổ trong giai đoạn giao thời này.

Thứ hai, là trong tương lai lâu dài, các nước Á châu đều phải ý thức được một thực tế Đông Á là các nước trong khu vực buôn bán với nhau nhiều hơn, trên một diện tích thật ra trải rộng hơn cảm quan ấn tượng bình thường. Thí dụ như cũng trong phạm vi Đông Á, từ Sàigon lên Thượng Hải thì cũng xa không kém từ New York qua Paris; hoặc từ Sydney lên Tokyo thì cũng xa như từ Los Angeles tới Bắc Kinh.

Trên địa bàn ấy, cước phí vận chuyển là bài toán rất nặng, nhất là khi đa số các nước đang phát triển tại Đông Á lại có hiệu năng tiêu thụ rất kém. Cho nên, giá cả dầu khí vẫn là mối nguy cho ngoại thương nếu kinh tế tùy thuộc quá nhiều vào thị trường xuất khẩu. Bài học ấy khiến một nước như Việt Nam cần xét lại cấu trúc kinh tế và nhất là chú ý nhiều hơn tới việc mở rộng thị trường nội địa, là điều cần thiết về kinh tế lẫn xã hội và cả chính trị.

…và cho Việt Nam

Việt Long: Ông vừa nhắc tới trường hợp Việt Nam, nếu tình hình giá cả thương phẩm có xoay chuyển và dầu thô giảm giá thì những gì sẽ xảy ra và đâu là những bài học sau cơn sốt vừa qua?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ rằng Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn đến thị trường nội địa của một dân số đủ đông là 85, 86 triệu, để có số cầu đủ mạnh cho sản xuất và đấy cũng là cách san bằng khoảng cách quá lớn về lợi tức của người dân. Muốn như vậy, phải nâng cao trình độ của hạ tầng cơ sở chuyển vận và luật lệ cho thông thoáng và bình đẳng hơn.

Thứ hai, rút kinh nghiệm được cảnh báo từ đầu năm, Việt Nam cần quan niệm lại chính sách canh nông hầu không bao giờ để người dân bị đói hay khốn đốn vì lương thực tăng giá. Thứ ba, và ngay trước mắt, đừng lạc quan quên lãng nhu cầu ổn định giá cả vì lạm phát tiền tệ vẫn còn đe dọa nền kinh tế. Trong ý nghĩa đó, người ta còn nên chú ý tới mối nguy trước mắt là đô la lên giá, tức là đồng bạc Việt Nam sẽ còn nguy cơ tuột giá và gây bất ổn nặng trong những tính toán kinh doanh của người Việt.

Tổng kết lại, khi dầu thô lên giá tới 140 đồng một thùng, kinh tế Việt Nam có thể bị khủng hoảng như chúng ta dự báo từ mấy tháng trước. Ngày nay, giá dầu đang giảm thì có thể đẩy lui nguy cơ khủng hoảng đó. Tuy nhiên, sự thăng trầm rất mạnh của giá cả vẫn là một vấn đề, và lạm phát vẫn còn gây sức ép rất mạnh, nhất là khi Mỹ kim lại lên giá, cho nên Việt Nam không thể lạc quan cho rằng mọi việc đều sẽ tốt đẹp.

Xem toàn trang