Buôn bán thú hoang dã

Tạp chí câu chuyện hàng tuần kỳ này xin được gửi tới quý thính giả những tìm hiểu về thực trạng buôn bán, vận chuyển, và các nỗ lực của chính phủ trong việc bảo vệ thú hoang dã tại Việt nam.
Việt Hà phóng viên RFA
2010-04-07
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Số ngà voi này được chuyển từ Nghệ An lên Móng Cái tiêu thụ
Số ngà voi này được chuyển từ Nghệ An lên Móng Cái tiêu thụ
Photo courtesy giaoducthoidai.vn

Hôm 19 tháng 3 vừa qua, cơ quan chức năng Việt nam đã bắt giữ một vụ vận chuyển trái phép gần 150 kg ngà voi tại tỉnh Quảng Ninh, gần biên giới với Trung quốc.  Đây chỉ là một trong nhiều vụ vận chuyển, buôn bán thú hoang dã và sản phẩm từ thú hoang dã ở Việt nam. Các chuyên gia cho rằng Việt nam giờ đây không những là nước tiêu thụ mà còn là nước trung chuyển của thú hoang dã sang thị trường lớn hơn là Trung Quốc.

Trung Quốc thị trường tiêu thụ lớn nhất

Trong suốt một thời gian dài đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt nam chủ yếu xuất khẩu thú hoang dã và các phó sản sang Trung quốc. Nhưng chỉ khoảng chục năm trở lại đây, tình hình đã thay đổi.
Chị Nguyễn Vân Anh, điều phối viên chương trình động vật hoang dã thuộc trung tâm giáo dục thiên nhiên, một tổ chức phi chính phủ về môi trường tại Việt Nam cho biết:

Những năm 90 thì tại thời điểm đó Việt nam chỉ là một nước cung cấp động vật hoang dã cho Trung quốc thôi vì tại thời điểm đó thì thị trường Trung quốc là thị trường lớn nhất về tiêu thụ động vật hoang dã

Nguyễn Vân Anh: nếu tính từ những năm 90 thì tại thời điểm đó Việt nam chỉ là một nước cung cấp động vật hoang dã cho Trung quốc thôi vì tại thời điểm đó thì thị trường Trung quốc là thị trường lớn nhất về tiêu thụ động vật hoang dã và thời điểm đấy thì động vật hoang dã ở Trung quốc hầu như là cạn kiệt rồi, thì động vật hoang dã của Việt nam chủ yếu sang Trung quốc ở thời điểm đó.

Nhưng tới hiện nay thì Việt nam cũng đang trở thành một quốc gia tiêu thụ, đồng thời cũng là một quốc gia trung chuyển từ các nước sang Trung quốc. Có thể động vật hoang dã được buôn bán từ Thái lan, Malaysia, Indonesia, Lào qua Việt nam sau đó thì sang Trung quốc.
Ở Việt nam giờ đây, khi kinh tế phát triển thì đời sống người dân cũng được cải thiện hơn trước. Nếu trước kia người dân sống dựa vào rừng, tiêu

Gấu Á Châu được nuôi để rút mật. Photo courtesy Wikipedia
Gấu Á Châu được nuôi để rút mật. Photo courtesy Wikipedia Photo courtesy Wikipedia
thụ động vật hoang dã vì đó là nguồn protein chính, hoặc săn bắt để bán lấy tiền, thì giờ đây, ăn thịt động vật hoang dã là một cách để chứng minh với mọi người rằng mình giàu có. Ông Thomas Osborn, điều phối viên chương trình khu vực Mekong của Traffic, một tổ chức phi chính phủ quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã, cho biết như sau:
Thomas Osborn: đã có những thay đổi, giờ đây người dân đã khấm khá hơn trước và người ta có thể mua được nhiều thứ từ động vật hoang dã mà trước kia họ không thể. Giờ khi bạn có tiền, bạn muốn cho bạn bè mình thấy thì cách tốt nhất là đưa họ đến các nhà hàng đặc sản thịt thú rừng. Và vì thế chúng ta thấy hiện tượng này ngày một diễn ra nhiều hơn.
Không những thế, cùng với sự phát triển của du lịch, là ngành mang lại thu nhập đáng kể cho đất nước, Việt nam cũng phải đối mặt với tình trạng nuôi nhốt thú quý hiếm để phục vụ khách du lịch. Điển hình là việc nuôi nhốt gấu và hút mật gấu ở Quảng ninh để phục vụ khách du lịch Hàn quốc, và Trung quốc. Vấn đề này đã được báo chí đề cập đến nhiều. Thậm chí năm ngoái còn có một đoàn đại biểu quốc hội đến tận địa phương để thị sát tình hình. Nhưng các trang trại này hiện vẫn tiếp tục hoạt động.

Nếu trước kia người dân sống dựa vào rừng, tiêu thụ động vật hoang dã vì đó là nguồn protein chính, hoặc săn bắt để bán lấy tiền, thì giờ đây, ăn thịt động vật hoang dã là một cách để chứng minh với mọi người rằng mình giàu có.

Thú hoang dã cũng được coi là mặt hàng có nguồn lợi nhuận lớn. Chị Nguyễn Vân Anh của Trung tâm giáo dục thiên nhiên đã so sánh việc buôn bán thú hoang dã với buôn bán vũ khí và thuốc phiện, có lợi nhuận lên đến hàng tỷ đô la. Trong khi đó thị trường Trung quốc lại được coi là thị trường lớn để tiêu thụ các sản phẩm này phục vụ nhu cầu về thịt, và đặc biệt là để sản xuất các loại thuốc cổ truyền. Là một nước có đường biên giới dài tiếp giáp với nhiều nước, Việt nam trở thành một nước trung gian lý tưởng cho việc buôn lậu thú hoang dã. Chị Nguyễn Vân Anh giải thích:
Nguyễn Vân Anh: lý do họ trung chuyển qua Việt nam cũng có thể là do đấy là một con đường (trung chuyển) sang Trung quốc một cách thuận tiện nhất, hầu hết từ trước đến giờ Việt nam được xem là cái cửa sau để buôn bán động vật hoang dã sang Trung quốc.
Theo ông Thomas Osborn, vì do đường biên giới dài, nhà nước Việt nam gặp khó khăn trong việc ngăn chặn nạn buôn lậu thú hoang dã qua biên giới dù đã có những nỗ lực trong vài năm qua.

Tình hình hiện nay là rất khó bởi vì Việt nam là một nước có  đường biên giới dài tiếp giáp với Campuchia, Lào, Trung quốc. Cho nên rất khó để có thể chặn tất cả những chuyến hàng đi qua.

Thomas Osborn: Tình hình hiện nay là rất khó bởi vì Việt nam là một nước có  đường biên giới dài tiếp giáp với Campuchia, Lào, Trung quốc. Cho nên rất khó để có thể chặn tất cả những chuyến hàng đi qua. Các lực lượng chức năng có thể tập trung vào một vài điểm nóng nhưng sẽ rất khó để chặn tất cả mọi xe tải, mọi xe con, hay cả những người đi bộ qua biên giới.

Ngăn chặn và bảo vệ

Cũng theo ông Thomas Osborn thì trong hơn 10 năm qua, chính phủ đã có những nỗ lực nhất định để hạn chế việc buôn bán, vận chuyển và tiêu thụ thú hoang dã. Những nỗ lực này được thể hiện qua việc thông qua các luật, quy định, việc thành lập các đội cảnh sát môi trường vào năm 2007, thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng. Việt nam cũng đã chính thức gia nhập công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (gọi tắt là Cites) vào năm 1994.
Thomas Osborn: Có thể nói là đã có những thay đổi, cải thiện trong một số các lĩnh vực trong các năm qua. Nếu so với 10 năm về trước thì đã có rất nhiều thay đổi về động lực. Đã có nhiều nỗ lực từ chính phủ để giải quyết vấn đề buôn bán thú hoang dã bất hợp pháp. Đó là việc tăng cường thực thi luật pháp, sửa đổi một số luật và quy định, việc gia tăng các nỗ lực bảo vệ luật pháp của các cơ quan hữu trách như Cục kiểm lâm, hải quan, và cảnh sát môi trường. Ngoài ra thì việc nâng cao nhận thức trong cộng đồng, chính phủ và giới kinh doanh cũng có những tiến bộ.
Con số thống kê của Trung tâm giáo dục thiên nhiên cho biết từ năm 2005 đến 2008, Việt nam phát hiện được 1,319 vụ vi phạm luật về bảo vệ thú hoang dã.

Theo ông số lượng thu giữ  đã giảm trong các năm qua, nhưng rất khó kết luận đó là do số lượng thú hoang dã trong tự nhiên đã giảm hay phần lớn là do hiệu quả của việc thực thi pháp luật.

Trong đó điển hình là các vụ buôn bán vận chuyển trái phép, các vụ bày bán trái phép động vật hoang dã tại nhà, chợ, nhà hàng và cơ sở kinh doanh, nuôi nhốt trái phép, và quảng cáo thú hoang dã. Theo trung tâm giáo dục thiên nhiên thì số liệu này chỉ mới là một phần nhỏ trong số các vụ săn bắt, buôn bán động vật hoang dã đang diễn ra ở Việt nam, và chỉ dựa trên những thông tin mà trung tâm nhận được.
Ông Thomas Osborn thì cho biết con số các vụ vi phạm bị bắt giữ ở Việt nam trung bình một năm dao động trong khoảng từ 1,300 vụ đến 2,000 vụ. Theo ông số lượng thu giữ  đã giảm trong các năm qua, nhưng rất khó kết luận đó là do số lượng thú hoang dã trong tự nhiên đã giảm hay phần lớn là do hiệu quả của việc thực thi pháp luật.

Hổ Đông Dương có nguy cơ tuyệt chủng. RFA screen capture fr. Youtube
Hổ Đông Dương có nguy cơ tuyệt chủng. RFA screen capture fr. Youtube RFA screen capture fr. Youtube
Thomas Osborn: Có con số do Cục kiểm lâm báo cáo cho thấy là số lượng thu hồi đã giảm nhưng không rõ đó là do số lượng trong tự nhiên giảm hay do việc tăng cường các nỗ lực của lực lượng thực thi pháp luật. Rất khó để nói. Một số con số thống kê tính đến tận 10 năm trước cho đến giờ, thì trung bình khoảng 1,300 đến 2000 vụ buôn lậu động vật hoang dã một năm. Đây không phải là con số quá lớn nhưng chỉ dựa vào đó thì khó mà có thể nói là việc thực thi luật pháp hiệu quả đến đâu. Một vài người có thể cho rằng 20% hiệu quả, một số khác thì nói 2%. Đó là một khoảng ước đoán rộng và con số đúng có thể nằm trong khoảng đó.
Theo một số chuyên gia nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt nam, luật về bảo vệ động vật quý hiếm của Việt nam còn có những lỗ hổng mà từ đó có thể tạo điều kiện cho việc buôn bán trái phép động vật hoang dã. Tiến sĩ Tilo Nadler, giám đốc trung tâm cứu hộ các loài linh trưởng tại khu bảo tồn quốc gia Cúc Phương, người đã có hơn 15 năm gắn bó với núi rừng Việt nam, giải thích:

Việt nam quy định cho phép địa phương được quyền bán đấu giá các loại thú quý hiếm bị thu giữ. Đây là hình thức hợp thức hoá việc buôn bán thú quý hiếm. Quy định này không có ý nghĩa trong việc bảo vệ thú hoang dã.

Tilo Nadler: Việt nam quy định cho phép địa phương được quyền bán đấu giá các loại thú quý hiếm bị thu giữ. Đây là hình thức hợp thức hoá việc buôn bán thú quý hiếm. Quy định này không có ý nghĩa trong việc bảo vệ thú hoang dã. Ngoài ra cũng có quy định là thú hoang dã bị tịch thu nếu ở trong điều kiện sức khoẻ tốt phải được thả về tự nhiên. Nếu không  thì có thể được bán.Tất nhiên là chả có con thú nào bị bắt giữ lại ở trong điều kiện sức khoẻ tốt. Và thế là việc bán đấu giá được hợp thức hoá. Và không có ai có thể kiểm soát được đồng tiền thu về. Phần nhiều sẽ được chảy về túi của cá nhân.
Theo Trung tâm giáo dục thiên nhiên thì việc cho phép bán đấu giá các loài động vật hoang dã nguy cấp tịch thu được chỉ giống như là một biện pháp ‘đánh thuế’ chứ không làm giảm các hoạt động buôn bán động vật hoang dã trái phép. Không những thế nó còn góp phần kích thích nhu cầu tiêu thụ loại hàng hoá đặc biệt này.
Câu hỏi đặt ra là số phận các động vật hoang dã này sau khi bị bán đấu giá sẽ đi về đâu? Đã có ý kiến cho rằng chúng sẽ lại được tìm cách chuyển lậu qua biên giới sang Trung quốc.
Theo thống kê của Trung tâm giáo dục thiên nhiên, thì trong 2 năm 2007 và 2008, các cơ quan chức năng Việt nam đã tịch thu và bán đấu giá hơn 33 tấn tê tê. Câu hỏi đặt ra là những con tê tê này giờ ở đâu? Hiện ở Việt nam vẫn chưa có bất cứ trang trại nào được phép nuôi nhốt tê tê.
Tất nhiên, không phải mọi loại bị thu giữ đều có thể được bán đấu giá. Ông Thomas Osborn cho biết chỉ có một số loại nhất định khi bị thu giữ được quyền bán đấu giá theo quy định của công ước Cites và luật của Việt nam. Ví dụ như ngà voi vừa bị thu giữ hồi tháng 3 ở Quảng Ninh sẽ được cơ quan chức năng lưu kho cho đến khi có quyết định của chính phủ và được sự đồng ý của Cites về việc cho phép bán.
Trong nỗ lực bảo tồn thú hoang dã, Việt nam cũng cho phép lập các trang trại nuôi thú quý hiếm. Mục đích để bảo tồn và nhân giống các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao, và một số loài khác. Tuy nhiên, việc cho phép nuôi nhốt thú hoang dã trong trang trại hiện nay cũng đang gây nhiều tranh cãi, vì có nhiều ý kiến cho rằng các trang trại này hiện chưa được giám sát chặt chẽ nên đã có hiện tượng tiếp tay cho việc buôn bán trái phép thú hoang dã, hoặc các sản phẩm từ thú, mà điển hình là các trang trại nuôi nhốt gấu lấy mật ở Quảng Ninh. Ngoài ra ở một số nơi có hiện tượng thú thoát khỏi trang trại ra ngoài và gây nguy hiểm cho người dân.
Trong các năm qua, chính phủ Việt nam đã có những nỗ lực nhất định trong việc bảo tồn thú hoang dã, chống lại nạn buôn bán và vận chuyển động vật quý hiếm. Tuy nhiên, việc buôn bán, quảng cáo, và vận chuyển thú hoang dã và các sản phẩm liên quan ở Việt nam vẫn diễn ra ngày càng phức tạp. Câu hỏi đặt ra là liệu những nỗ lực từ phía chính phủ đã đủ mạnh và nhanh để đối phó với tình hình mới hay chưa?

Theo dòng thời sự:

Xem toàn trang