Luật Ngân Hàng Nhà nước gây thất vọng

Hai bộ luật sửa đổi là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức Tín dụng đã được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 16/6, những ai chờ đợi những cải cách quan trọng đã phải thất vọng.
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2010-06-19
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Ngân Hàng Nhà Nước
Ngân Hàng Nhà Nước
Courtesy Wikipedia

Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa thể giữ vị thế một Ngân hàng Trung ương độc lập như ở các nước khác, ngoài ra vấn đề lãi suất cơ bản tưởng chừng sẽ bị hủy bỏ, nhưng lại được Quốc hội đưa vào bản dự thảo cuối cùng trước khi biểu quyết.

Chưa có Ngân hàng Trung ương độc lập

Với luật sửa đổi có hiệu lực từ 1/1/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao vai trò trọng yếu là ngân hàng trung ương của Việt Nam nhưng điều này là vế thứ hai, ở vế thứ nhất Ngân hàng Nhà nước là một cơ quan ngang bộ của chính phủ.

Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia tài chánh cao cấp hiện điều hành một Quĩ đầu tư ở Việt Nam, nhận định về vấn đề này dưới nhãn quan nhiều kinh nghiệm về tài chánh quốc tế:

Nhà nước Việt Nam cần phải suy nghĩ thêm, một ngân hàng trung ương với cương vị một cơ quan ngang bộ dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thì nó không giống như ở các quốc gia khác.

Ông Bùi Kiến Thành

“Đây là vấn đề lãnh đạo. Nhà nước Việt Nam cần phải suy nghĩ thêm, một ngân hàng trung ương với cương vị một cơ quan ngang bộ dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thì nó không giống như ở các quốc gia khác.

Tuy nhiên ở Việt Nam trung ương chỉ đạo không phải là chính phủ mà tùy thuộc lãnh đạo của Đảng. Cho nên việc Ngân hàng Trung ương có được tính cách độc lập cũng là tương đối thôi, không phải như ở các quốc gia dân chủ bên châu Âu, châu Mỹ.

Vấn đề này có lẽ lần lần các vị ấy sẽ để cho Ngân hàng Nhà nước có được quyền hạn và trách nhiệm độc lập hơn. Có lẽ Việt Nam mình chưa tiến tới mức tư duy như thế nên hiện nay còn giới hạn.”

TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội nhận định ngay từ đầu kỳ họp của Quốc Hội là sẽ không có sự đột phá mạnh mẽ trong Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi:

“Vai trò độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ hiện nay vẫn chưa có thay đổi gì cơ bản, Ngân hàng Nhà nước sẽ vẫn là một thành viên của chính phủ, vì vậy chính sách tiền tệ vẫn là phục vụ chung và được quyết định cụ thể bởi chính phủ tức là thủ tướng Chính phủ.”

Bảng điện niêm yết chỉ số chứng khoán tại ngân hàng MHB ở Hà Nội hôm 26/4/2010. Photo by Tyler Chapman/RFA.
Bảng điện niêm yết chỉ số chứng khoán tại ngân hàng MHB ở Hà Nội hôm 26/4/2010. Photo by Tyler Chapman/RFA. Photo: RFA
Trả lời chúng tôi, ông Huỳnh Bửu Sơn, nguyên thành viên tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chánh và cải cách kinh tế trong thập niên 1990, nhận định rằng đây là một đặc thù của Việt Nam:

“Theo tôi nếu có qui chế dành cho Ngân hàng Nhà nước quyền tự chủ nhiều hơn thì cũng tốt. Trên thực tế chưa có qui chế như thế, nhưng nếu Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước có sự hiểu biết, có kiến thức, năng lực chuyên môn tốt, thì vẫn có thể góp ý cho chính phủ để đưa ra đường lối có tính chất độc lập cao hơn về chính sách tiền tệ và trong việc thực thi. Ngay cả ở nhiều nước Ngân hàng Trung ương có qui chế độc lập, nhưng nếu người lãnh đạo không có năng lực tốt thì họ vẫn có thể chịu tác động của Chính phủ và ảnh hưởng của Bộ Tài Chánh.”

Giữ lãi suất cơ bản vô bổ

Trả lời chúng tôi về việc Quốc hội Việt Nam vẫn duy trì lãi suất cơ bản trong bộ luật sửa đổi, ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chánh cao cấp đưa ra nhận định:

“Theo tôi thấy thì lãi suất cơ bản không có tác dụng gì cả, tức là khi trước đưa ra một lãi suất cơ bản và dựa vào đấy qui định mức lãi suất tối đa, mà các ngân hàng cho doanh nghiệp vay là 150% của lãi suất cơ bản.

Nhưng từ ngày chính phủ và Ngân hàng Nhà nước quyết định ngân hàng thương mại được phép cho vay với lãi suất thỏa thuận và vượt qua qui định của Luật Dân sự là 150% của lãi suất cơ bản thì thực chất lãi suất cơ bản chả còn ý nghĩa gì nữa.

Cho nên giữ lại trong luật thì giữ nhưng tôi thấy không có ích gì cho nền kinh tế, mà còn có thể gây ra việc quản lý khó khăn không có chặt chẽ đối với vấn đề luật pháp.”

Nhưng từ ngày chính phủ và Ngân hàng Nhà nước quyết định ngân hàng thương mại được phép cho vay với lãi suất thỏa thuận và vượt qua qui định của Luật Dân sự là 150% của lãi suất cơ bản thì thực chất lãi suất cơ bản chả còn ý nghĩa gì nữa.

Ông Bùi Kiến Thành

Báo mạng Vnexpress cho rằng, với sự trở lại của lãi suất cơ bản trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa được thông qua, nếu dẫn chiếu theo đúng từ ngữ thì việc cho vay của các tổ chức tín dụng lại có vấn đề với Luật Dân sự khi qui định không được cho vay quá 150% lãi suất cơ bản.

Được biết với lãi suất cơ bản 8%, lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng thương mại không được vượt quá 12%, nhưng hiện nay các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất từ 15% tới 18% thậm chí 20%.

Theo Vnexpress, số lượng các đoàn đại biểu ỵêu cầu qui định ngân hàng thương mại thực hiện chính sách lãi suất thỏa thuận theo cơ chế thị trường cân bằng với số đoàn đề nghị giữ lại lãi suất cơ bản. Cụ thể là 18 đoàn muốn bỏ và 18 đoàn muốn giữ, những đoàn muốn giữ biện luận rằng phải có lãi suất cơ bản để bảo đảm điều gọi là tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, giữ vai trò định hướng, tránh cuộc đua lãi suất, chống cho vay nặng lãi.

Theo SGGP Online và Thời Báo Kinh Tế Việt Nam bản điện tử, trước khi biểu quyết Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích rằng, việc cho phép các tổ chức tín dụng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận không có nghĩa là để lãi suất tự do thả nổi trên thị trường. Trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp trực tiếp vào cơ chế lãi suất của tổ chức tín dụng.

Giới hạn để chống thao túng

Ngân hàng Vietcombank ở Hà Nội. AFP
Ngân hàng Vietcombank ở Hà Nội. AFP AFP
Cùng ngày 16/6, Quốc hội cũng thông qua Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Điều đáng chú ý được các báo đưa tin là khi luật hiệu lực vào đầu năm tới, tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư trong nước về cơ bản tương đương với tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam. Theo luật cũ, tỷ lệ này là 20%, một số đại biểu đề nghị giới hạn xuống mức 10%, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chấp nhận mức 15%, cho rằng phù hợp với thực tế vốn của cổ đông và việc nâng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng. Quốc hội đã chấp thuận theo đề nghị này.

Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Lê Đăng Doanh đề cập tới sự thao túng có thể có ở các ngân hàng Việt Nam:

Những người góp vốn có thể là thể nhân hay là pháp nhân, tức là đứng danh nghĩa cá nhân hay doanh nghiệp đứng danh nghĩa góp vốn vào ngân hàng, những người đó có tỷ lệ cổ phần rất lớn, nếu họ liên kết với nhau thực sự họ có khả năng lũng đoạn và khống chế quyền của hội đồng quản trị.

TS Lê Đăng Doanh

“Những người góp vốn có thể là thể nhân hay là pháp nhân, tức là đứng danh nghĩa cá nhân hay doanh nghiệp đứng danh nghĩa góp vốn vào ngân hàng, những người đó có tỷ lệ cổ phần rất lớn, nếu họ liên kết với nhau thực sự họ có khả năng lũng đoạn và khống chế quyền của hội đồng quản trị.

Trong thực tế những người ấy sau khi thành lập ngân hàng thì lại yêu cầu ngân hàng huy động vốn để đầu tư cho những dự án của bản thân mình. Nói cách khác, ngân hàng sẽ huy động vốn để đầu tư cho các dự án của thành viên đã tham gia lập ra mình.

Đấy là một điều trái với qui định của ngân hàng thương mại thông thường, ngân hàng không được cho cổ đông chủ chốt của mình vay để kinh doanh. Nếu như điều này không được ngăn chặn thì tôi rất lo ngại về tính an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện nay.”

Qua những gì báo chí tường thuật, sự định hướng xã hội chủ nghĩa hiện diện ở khắp mọi nơi trong mọi thể chế pháp luật và đời sống xã hội Việt Nam. Nền kinh tế thị trường của Việt Nam sẽ còn mất rất nhiều thời gian để điều chỉnh nếu được tiếp tục định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo dòng thời sự:

Xem toàn trang