Tình trạng nước đục ở thành phố Hồ Chí Minh (phần 1)


2006.06.21
Share on WhatsApp
Share on WhatsApp

Đỗ Hiếu & Nguyễn Minh Quang, RFA

Từ đầu năm 2005, nước uống trong hệ thống cấp nước sinh hoạt ở một số địa bàn của thành phố HCM đã bị nhiễm bẩn hoặc vàng đục đến độ không thể sử dụng được. Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn và Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp thuộc Viện Nghiên cứu hạt nhân Ðà Lạt đã tiến hành nghiên cứu, nhưng cho đến nay, vẫn chưa tìm ra nguyên nhân thỏa đáng.

Ðể tìm hiểu thêm về tình trạng nước bẩn và đục ở TPHCM, phóng viên Ðỗ Hiếu đã trao đổi với Kỹ sư Nguyễn Minh Quang. Ông Quang là một kỹ sư công chánh của tiểu bang California và cũng là một chuyên viên thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Trước năm 1975, KS Quang là một chuyên viên phục vụ tại Ủy ban Quốc gia Thủy lợi trực thuộc Bộ Công Chánh và Giao thông ở Sài Gòn.

Đỗ Hiếu: Theo chỗ chúng tôi được biết, sau hơn 4 tháng làm việc qua việc phân tích hơn 2.000 chỉ tiêu lý, hóa, sinh từ 105 mẩu nước thu thập ở nhiều điểm khác nhau trong vùng bị ảnh hưởng, Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp (TTƯDKTHNTCN) đã tổ chức hội thảo để công bố kết quả nghiên cứu tại Sở Khoa học-Công nghệ (SKHCN) TPHCM ngày 17 tháng 5 vừa qua. KS có nhận xét gì về kết quả nghiên cứu nầy.

Nguyễn Minh Quang: Kỹ sư Nguyễn Hữu Quang, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, cho rằng nước bị bẩn vì 5 nguyên nhân: (1) vật liệu xây dựng còn sót lại trong ống vì chưa được súc sạch, (2) áp lực nước tăng mạnh làm tróc rỉ sét bám lâu ngày vào thành ống, (3) nguồn nước từ Nhà máy nước Tân Hiệp bị đục nhưng chưa được xử lý triệt để, (4) khả năng nước bẩn xâm nhập từ bên ngoài đường ống, và (5), và cũng là nguyên nhân chính, do nguồn nước mặn ăn mòn đường ống.

Tôi đồng ý với các nhà khoa học có mặt trong buổi hội thảo rằng kết quả nghiên cứu của TTƯDKTHNTCN không có tính thuyết phục.

Theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của tôi cộng với dữ kiện mà tôi có được, thì sự hiện diện của hai chất sắt và măn-gan (manganese) ở nồng độ cao trong nguồn nước có lẽ là nguyên nhân chính làm cho nước bị bẩn hoặc đục, chứ không phải vì nguồn nước mặn ăn mòn đường ống.

Sau hết, tôi nghĩ rằng TTƯDKTHNTCN không phải là cơ quan thích hợp nhất để tìm nguyên nhân cho các vấn đề liên quan đến việc vận hành của một hệ thống cấp thủy nếu “kỹ thuật hạt nhân” không được sử dụng trong việc nghiên cứu.

Đỗ Hiếu: Như vậy, TTƯDKTHNTCN có dùng “kỹ thuật hạt nhân” trong nghiên cứu của họ không, thưa KS?

Nguyễn Minh Quang: Dạ thưa, theo tin tức đăng tải trên báo chí trong nước, “phương pháp phân tích kết hợp đánh dấu” đã được dùng để xác định nguyên nhân gây bẩn và đục hệ thống cấp nước của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO). TTƯDKTHNTCN đã dùng nhiều phương pháp phân tích hiện đại như sắc ký Ion IC, quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS, huỳnh quang phản xạ toàn phần TXRF, trắc quang, và chuẩn độ hiện có tại VNCHNÐL để phân tích 105 mẩu nước thu thập trên khắp địa bàn thành phố.

Trung tâm cũng sử dụng kết quả phân tích nguồn nước mặt lấy từ sông Sài Gòn và Ðồng Nai cho nhà máy nước Tân Hiệp và Thủ Ðức, và nguồn nước ngầm của nhà máy nước Hóc Môn. Nếu đúng như vậy, thì kỹ thuật hạt nhân dường như đã không được sử dụng trong việc nghiên cứu, và tôi nghĩ cũng không cần thiết.

Các phương pháp phân tích mẫu nước cũng thế, chỉ cần một số phương pháp phân tích đơn giản là có thể xác định một số đặc tính vật lý và hóa học quan trọng như pH, nồng độ của sắt và măn-gan, nồng độ hay độ hòa tan của oxy, độ đục, màu, và mùi của nguồn nước và nước trong đường ống.

Đỗ Hiếu: Có nhiều ý kiến hoặc đề nghị của các nhà khoa học được trình bày hoặc thảo luận trong buổi hội thảo. KS có nhận xét gì về những ý kiến nầy.

Nguyễn Minh Quang: Có nhiều ý kiến, nhưng đa số chỉ thảo luận từng yếu tố có thể làm cho nước bị bẩn hoặc đục, nhưng tình trạng nước bị bẩn hoặc đục ở một số vùng trong thành phố hiện nay do nhiều yếu tố kết hợp lại với nhau.

Thí dụ như Giáo sư (GS) Chu Phạm Ngọc Sơn cho rằng nghiên cứu của TTƯDKTHNTCN tự mâu thuẫn khi kết luận rằng độ đục tăng theo tỉ lệ thuận với nồng độ của chlorine, vì có nơi đục nhiều mà chlorine lại ít. Thật ra, độ đục trong nước còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác mà quan trọng nhất là nồng độ của sắt và măn-gan.

Đỗ Hiếu: Như KS có cho biết, một trong những nguyên nhân mà TTƯDKTHNTCN đưa ra là nguồn nước từ nhà máy nước Tân Hiệp bị đục nhưng chưa được xử lý triệt để. Ðây là nhà máy mới hoàn thành vào khoảng tháng 7 năm 2004. Như vậy, có phải hệ thống xử lý của nhà máy nầy có vấn đề không, thưa KS?

Nguyễn Minh Quang: Tôi không có dữ kiện chính xác về tình trạng nguồn nước từ nhà máy nước Tân Hiệp, nồng độ của sắt và măn-gan trong nước sông Sài Gòn và dữ kiện về cơ sở hạ tầng và phương pháp lọc nước của nhà máy nầy; nhưng dường như sắt và măn-gan ở trong nước phát ra từ nhà máy có nồng độ rất cao so với nồng độ có khả năng làm nước bị bẩn, đục, và có mùi hôi.

Theo Ông Bùi Thanh Giang, Trưởng phòng kỹ thuật của SAWACO, chất lượng nước phát ra từ các nhà máy nước của tổng công ty đều đúng theo tiêu chuẩn của Sở Y tế, trong đó, nồng độ sắt và măn-gan không được vượt quá 0,5 mg/lít. Ông cũng cho biết rằng, theo kinh nghiệm của ngành cấp nước, tình trạng nước đục có thể xảy ra nếu nồng độ vượt quá 0,3 mg/lít.

Do đó, tổng công ty đã thống nhất với SKHCN và Sở Y tế TPHCM để điều chỉnh nồng độ của măn-gan xuống còn 0,2 mg/lít và sắt xuống còn 0,3 mg/lít. Tuy nhiên, nồng độ nầy vẫn còn cao so với nồng độ an toàn là thấp hơn 0,05 mg/lít cho măn-gan và thấp hơn 0,2 mg/lít cho sắt.

Đỗ Hiếu: Nhưng thưa KS, tại sao nồng độ sắt và măn-gan lại có ảnh hưởng trực tiếp đến độ đục và mùi hôi của nước, vì hai chất nầy không có màu và mùi khi hòa tan trong nước.

Nguyễn Minh Quang: Dạ đúng như vậy, khi nước có nồng độ oxy thấp, chẳng hạn như nước ngầm bơm từ giếng sâu, sắt và măn-gan hòa tan ở trong nước mà không có màu. Nhưng khi nồng độ oxy trong nước gia tăng, chúng sẽ bị oxy hóa; kết tủa thành hạt rỉ màu trắng, chuyển sang màu vàng rồi màu sét (nâu đỏ); và lắng xuống đáy.

Còn hạt rỉ sắt nào quá nhỏ sẽ tiếp tục trôi lơ lửng trong nước và làm cho nước có màu. Măn-gan cũng bị oxy hóa tương tự như sắt, nhưng hạt rỉ măn-gan có màu đen. Còn mùi hôi như nước cống hoặc trứng thối là do hydrogen sulfide, thường hiện diện trong nước có nồng độ sắt và măn-gan rất cao.

Đỗ Hiếu: Nhưng nhà máy nước Tân Hiệp lấy nước mặt từ sông Sài Gòn, thưa KS?

Nguyễn Minh Quang: Dạ thưa đúng như vậy, thông thường thì nồng độ oxy trong nước mặt cao hơn nước ngầm rất nhiều. Nhưng nếu nước mặt bị ô nhiễm thì nồng độ oxy có thể xuống rất thấp; và nếu nước mặt có nồng độ sắt và măn-gan cao, nước có thể đổi sang màu đen và hôi thối mà không cần có sự phân hủy của chất hữu cơ. Và đây có thể là trường hợp của nước được lấy cho nhà máy nước Tân Hiệp từ sông Sài Gòn.

Ðiểm đáng lưu ý nhất là việc dùng chlorine để khử trùng nước phát ra từ nhà máy nước Tân Hiệp. Vì chlorine là một trong các hóa chất dùng để loại chất sắt và măn-gan ở trong nước bằng phương pháp kết tủa-gạn lọc; cho nên, nó oxy hóa sắt và măn-gan rất nhanh và làm cho nước bị nhiễm bẩn và hôi thối nếu nồng độ của sắt và măn-gan trong nước cao. Ðây có lẽ là một trong những nguyên nhân có tính thuyết phục cao vì nó phù hợp với những dữ kiện quan sát được.

Theo một cán bộ của SAWACO, sau khi nước ra khỏi nhà máy thì được châm chlorine để khử trùng, nhưng vì vị trí châm không hợp lý nên gây thêm tác động lên nguồn nước, khiến nhiều chất cặn lắng tích tụ trong đường ống. Tình trạng nước bẩn giảm hẳn khi SAWACO hạ nồng độ măn-gan trong nước từ 0,3-0,5 mg/lít xuống còn 0,05-0,1 mg/lít.

Đỗ Hiếu: KS cho rằng TTƯDKTHNTCN không phải là một cơ quan thích hợp nhất cho việc tìm nguyên nhân gây nước bẩn và đục. Như vậy, theo KS, cơ quan chức năng nào ở Việt Nam là thích hợp?

Nguyễn Minh Quang: Tôi không biết ở Việt Nam có cơ quan hay trung tâm nghiên cứu nào có đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm thích hợp cho việc nghiên cứu nầy. Lý do là vì cơ quan chuyên môn hay trung tâm nghiên cứu cần phải có kiến thức và kinh nghiệm trong việc soạn thảo kế hoạch, xây cất, và vận hành một hệ thống cấp thủy; cần phải có kiến thức và kinh nghiệm về đặc tính vật lý và hóa học của các nguồn nước cung cấp cho hệ thống; và cần phải có kiến thức và kinh nghiệm về cơ sở hạ tầng và phương pháp gạn lọc nước gia dụng (drinking water treatment).

Nhưng tôi không nghĩ rằng các cơ quan, hiệp hội, và trung tâm nghiên cứu mà SKHCN TPHCM dư định mời nghiên cứu chung với TTƯDKTHNTCN trong những ngày sắp tới hội đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm mà tôi vừa nêu.

Đỗ Hiếu: Mới đây, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TPHCM cho biết hai chuyên gia người Pháp sẽ sang Việt Nam vào đầu tháng 7 để tìm nguyên nhân nước đục. KS có nhận xét gì về vấn đề nầy.

Nguyễn Minh Quang: Theo tin tức báo chí trong nước thì có một chuyên gia thuộc Tổng công ty cấp nước Paris và một chuyên gia đầu ngành về khí động học. Tôi không rõ khả năng và kinh nghiệm của chuyên gia thuộc Tổng công ty cấp nước Paris như thế nào, nhưng tôi không nghĩ chuyên gia đầu ngành khí động học là thích hợp.

Ngoài khả năng và kinh nghiệm của hai chuyên gia người Pháp, phía Việt Nam cần tạo điều kiện làm việc thuận lợi và cần có đối tác tương ứng để phối hợp trong việc soạn thảo và thực hiện một kế hoạch nghiên cứu thực tiễn và có hiệu quả hơn kế hoạch nghiên cứu của TTƯDKTHNTCN thì mới mong có kết quả tốt.

Đỗ Hiếu: Cám ơn Kỹ sư Nguyễn Minh Quang đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

COMMENTS

Xem toàn trang