Đợt sóng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam

0:00 / 0:00

Nguyễn Quốc Khải & Việt Long, RFA

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI đổ vào Việt-Nam trong 10 tháng vừa qua cao hơn cùng thời gian năm ngoái. Tính đến cuối tháng 6-2007, khoảng hơn 10 tỉ đô la đã được đầu tư vào Việt-Nam theo thống kê chính thức của chính phủ.

IntelInvestment200.jpg
Lễ công bố và nhận giấy phép đầu tư của công ty Intel vào Việt Nam hôm 26-2-2006 tại Sài Gòn. AFP PHOTO>> Xem hình lớn hơn

Theo giới kinh tế ở Việt Nam thì con số này có thể sẽ tăng lên gấp đôi, tức vào khoảng 20 tỉ Mỹ kim vào cuối năm nay. Kết quả là tổng cộng số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp sẽ có thể lên đến 100 tỉ Mỹ kim so với 80 tỉ Mỹ kim vào cuối năm 2006. Trước đây Việt-Nam chỉ hy vọng đạt được chỉ tiêu này vào 2010.

Trong bối cảnh ấy, chúng tôi hỏi thêm chi tiết về chuyện đầu tư vào Việt Nam với GS Nguyễn Quốc Khải. Giáo sư Khải là cựu chuyên viên của Ngân hàng Thế giới. Ông từng giảng dạy tại trường Cao học quốc tế vụ thuộc trường đại học Johns Hopkins ở Washington D.C.

Như thường lệ, những ý kiến và số liệu của vị giáo sư nêu lên trong cuộc phỏng vấn do Việt-Long thực hiện sau đây không phản ánh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.

Những yếu tố thuận lợi

Việt Long: Nguyên do sự gia tăng đầu tư FDI vào Việt Nam?

Nguyễn Quốc Khải: Việt-Nam đã được Hoa-Kỳ chấp thuận cho hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn vào tháng 10-2006, triển hạn hiệp định thương mại song phương với Hoa-Kỳ thêm ba năm vào tháng 12-2006, chính thức gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO) vào tháng 1-2007 và được các quốc gia hội viên trong khối ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) công nhận là một nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tất cả những yếu tồ này làm cho các nhà đầu tư nước ngoài tin cậy để đầu tư vào Việt-Nam hơn.

Nguyên do thứ hai là vào đầu thế kỷ 21, Việt-Nam hãy còn kinh doanh trong lãnh vực với lương thấp như sản xuất giầy dép, xe đạp, và quần áo. Nhưng trong những năm gần đây, Việt-Nam đã thu hút được nhiều công ty kỹ nghệ và dịch vụ lớn và đang trở thành một trung tâm sản xuất theo giao kèo đặt hàng của các nhà đầu tư nước ngoài.

Việt Long: Những viên chức điều hành của 18 công ty Hoa-Kỳ trong đó có Boeing, Exxon, Fedex, Ford, General Electric, IBM, và UPS đã đến Việt-Nam vào mùa xuân vừa qua để tham dự diễn đàn mang tên "Vietnam, một tương lai tuơi sáng cho doanh nghiệp Hoa Kỳ " và tìm kiếm cơ hội đầu tư mới. Giáo sư có số liệu đầy đủ hơn về những vụ đầu tư của người Mỹ vào Việt Nam trong năm nay?

Nguyễn Quốc Khải: Có những dấu hiệu điển hình cho đợt đầu tư của doanh nghiệp Mỹ như ông vừa nói. Ví dụ như ông Stephen Braim, Phó Chủ Tịch IBM đặc trách về khu vực chính phủ nói rằng công ty của ông phấn khởi với sự kiện Việt-Nam gia nhập WTO và những biện pháp thi hành hiệp ứơc đó. Kết quả là IBM dự trù xây một trung tâm dịch vụ ở miền Nam để phát triển phần mềm và những dịch vụ đóng góp thêm nhiều trị giá gia tăng tại Việt-Nam.

Công ty bưu điện tốc hành UPS cũng tỏ ý vui mừng khi được đầu tư trực tiếp vào Việt Nam mà không phải qua trung gian địa phương. Còn Intel thì đã đầu tư dự án 1 tỉ đô la như chúng ta đã biết.

Việt Long: Ngoài Hoa Kỳ thì còn những nguồn đầu tư trực tiếp nào?

Nguyễn Quốc Khải: Nhật Bản cũng đẩy mạnh kế hoạch đầu tư vào những lãnh vực như điện, điện tử, kỹ thuật cao, xi măng, và chuyên chở. Tính đến cuối tháng 5 vừa qua, Nhật Bản đã đầu tư vào Việt-Nam 7,9 tỉ Mỹ kim. Những đại công ty điện tử như Cannon, Fujitsu, Matsushita, Nidec, Sanyo, và Sony đã thành công tại Việt-Nam nay dự trù phát triển hoạt động sau khi Việt-Nam gia nhập WTO.

Ngoài ra, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông, Ấn Độ và Nam Hàn cũng là những nguồn FDI quan trọng. Hong Kong vừa mới khởi công xây cất một nhà máy giấy tại tỉnh Hậu Giang. Đài Loan thì theo chân của Intel. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử lớn nhất thế giới là Hon hai, đã thông báo vào tháng 8-2007 một dự án xây cất một số cơ xưởng chế tạo bộ phận điện tử gần Hà Nội, trị giá 5 tỉ Mỹ kim, trong vòng 5 năm tới.

Nam Hàn đứng đầu danh sách 78 quốc gia và lãnh thổ đang đầu tư vào Việt-Nam. Kumbo Asiana Group, một trong bảy công ty lớn nhất của Nam Hàn, đã đầu tư 2.5 tỉ Mỹ kim vào một số dự án tại Hà Nội. Công ty này dự trù đầu tư thêm 4 tỉ Mỹ kim vào Việt-Nam. Việc thi hành Thỏa Hiệp Tư Do Thương Mai Nam Hàn và ASEAN, bắt đầu có hiệu lực từ 01-06-2007, đã làm cho Việt-Nam trở thành hấp dẫn đối với đầu tư của Nam Hàn.

Một số lĩnh vực cần cải thiện

Việt Long: Báo Wall Street Journal có lần nhận xét rằng còn khá lâu Việt-Nam mới trở thành một địa điểm thu hút công việc từ các nước đưa vào Việt-Nam sản xuất, vì Việt Nam thiếu một hệ thống viễn thông và một lực lượng lao động tài giỏi. Ông có tài liệu gì về việc các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng của họ?

Nguyễn Quốc Khải: Tuy có thể còn thiếu hạ tầng cơ sở tốt như Wall Street Journal nêu ra, nhưng về nhân công thì Nhật đánh giá công nhân Việt Nam rất cao, gọi họ là những người có thể huấn luyện nhanh thứ nhì, chỉ sau công nhân của Nhật. Dù vậy, về lâu dài, vấn đề công nhân lành nghề là một thử thách đối với Việt Nam, vì hệ thống giáo dục quá lạc hậu về đủ mọi mặt.

Tuy nhiên trong năm vừa qua, về đầu tư sản xuất thì Việt Nam được những nhà đầu tư nổi tiếng đánh giá cao. Theo bảng tổng kết 2006 của công ty tư vấn về đặt hàng hải ngoại (outsource) NeoIT, Saigon được xếp vào hạng 8 trong 20 thành phố về địa điểm đặt hàng hải ngoại. Hai thành phố khác trong danh sách 10 địa điểm tốt nhất mà không phải của Ấn Độ là Manila (hạng 9) và Shanghai (hạng 10).

Vào tháng 10-2006, hãng sản xuất computer chip lớn nhất thế giới Intel công bố một kế hoạch xây một nhà máy ráp vật liệu bán dẫn gần Saigon, bao gồm một cơ xưởng rộng gần 5 ngàn mét vuông, sử dụng 4,000 công nhân. Việc xây cất khởi sự vào tháng 3-2007 và dự trù hoàn tất vào giữa năm 2009.

Về nhu liệu vi tính thì ông Bill Gates, Chủ Tịch Công Ty Microsoft, trong lần viếng thăm Việt-Nam vào 2006, nói rằng Việt-Nam có thể theo Ấn Độ để phát triển phần mềm và thực hiện một số công việc khác được chuyển ra hải ngoại làm. Thật vậy, ngày càng có nhiều công ty chuyển việc sang Việt-Nam, như Harvey Nash của Anh, Belgacom của Bỉ, Honda Motor của Nhật, Discovery Channel và MSNBC của Hoa-Kỳ.

Việt Long: Ông nhận thấy ở Việt Nam còn những lãnh vực nào cần được cải thiện để thu hút thêm đầu tư hơn nữa?

Nguyễn Quốc Khải: Những lãnh vực cần được cải tiến bao gồm hạ tầng cơ sở yếu kém, lưu thông tắc nghẽn, và thiếu điện lực trầm trọng. Những hải cảng và phi cảng, những đường vòng đai, xe điện tại thành thị, và những nhà máy sản xuất điện lực cần được xây thêm. Hệ thống đường sắt cũ kỹ và đường liên tỉnh cần phải hiện đại hóa. Những dự án cần thiết này đòi hỏi rất nhiều vốn trong khi đó chính phủ phải đối phó với việc giảm thuế nội địa và thuế nhập cảng, vấn đề ngân sách, và cán cân thương mai bị thâm hụt.

Một mối quan tâm lớn nữa đối với những nhà đầu tư ngoại quốc là hệ thống tư pháp mục nát tại Việt-Nam. Việt-Nam thiếu một hệ thống tư pháp độc lập, một phần vì Đảng Cộng Sản cầm quyền lại giữ quyền chọn lựa thẩm phán, điều tra kỹ lưỡng lập trường chính trị những người này. Ngoài ra, Đảng CSVN còn tìm cách gây ảnh hưởng đến kết quả của những trường hợp về tư pháp xem ra đe dọa đến Nhà nước hoặc ưu thế cai trị của đảng. Hệ thống tư pháp của Việt-Nam còn bị cản trở bởi sự thiếu hụt luât sư và thể thức xử án sơ đẳng.

Thêm váo đó , Phó Thủ Tướng Việt-Nam Nguyễn Sinh Hùng tại Diễn Đàn Quốc Tế về Đông Á được tổ chức ở Singapore vào ngày 24-06-2007 nói rằng huấn luyện lực lượng lao động là “một thử thách và đe dọa lớn nhất” đối với sự phát triển kinh tế tại Việt-Nam.

Thật vậy, hệ thống giáo dục với chất lượng thấp, và những chương trình huấn nghệ yếu kém là những thử thách thật sự. Sự bất ổn của khu vực lao động là một sự đe dọa thực sự đối với chế độ chính trị ở Việt-Nam. Vào 2005-2006, hàng trăm ngàn công nhân Việt-Nam đã đình công để chống lại ép buộc lao động, làm việc nhiều giờ nhưng không được trả tiền phụ trội, lạm dụng công nhân về thể xác, tinh thần và cảm xúc. Những công nhân này đòi mức lương đủ để nuôi sống gia đình và môi trường làm việc khá hơn.

Công nhân tại Việt-Nam không được phép thành lập nghiệp đoàn độc lập. Mọi người phải gia nhập Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt-Nam, một tổ chức công đoàn hợp pháp duy nhất tại Việt-Nam và là một cơ quan của Đảng CSVN. Trên thực tế, chủ đích của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt-Nam là để đoàn ngũ hóa và kiểm soát công nhân thay vì bảo vệ công nhân. Thật vậy, TLĐLĐVN chưa bao giờ khởi công hay tham dự một cuộc đình công nào do công nhân tổ chức tự phát. Những người lãnh đạo của TLĐLĐVN phải là đảng viên Cộng Sản và thông thường lãnh lương của công ty cao hơn những công nhân bình thường.

Việt Long: Giáo sư vui lòng nêu ra một lời tổng kết về vấn đề đầu tư ở Việt Nam.

Nguyễn Quốc Khải: Trong môi trường kinh doanh thuận lợi hiện nay tại Việt-Nam, người ta trông đợi rằng FDI sẽ tiếp tục đổ vào Việt-Nam trong một tương lại gần. FDI giúp Việt-Nam vốn cần thiết và nhiều cơ hội để học hỏi kỹ thuật tiến bộ từ những nhà đầu tư. Đây là hai lợi ích chính mà FDI có thể cung cấp cho nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên Việt-Nam xem ra chưa sẵn sàng để bắt lấy những cơ hội này, là do nển chính trị.

Mặt khác, FDI cũng tạo ra nhiều thử thách cho những công ty địa phương về thị phần, nhân công, và nguồn tài chánh. Việt-Nam xem ra cũng chưa sẵn sàng để đối phó với những thử thách này.

Để có thể cạnh tranh hữu hiệu với những công ty đầu tư nước ngoài, Việt-Nam đãng lẽ phái hoàn tất việc cải tổ sâu rộng những công ty quốc doanh, những ngân hàng thương mại nhà nước, và phải yểm trợ khu vực tư nội địa ít nhất 5-10 năm trước đây. Bây giờ hơi quá chậm nhưng còn hơn không.