Thiện Giao, phóng viên đài RFA
Vào ngày 17 tháng Ba tới, nếu không có gì thay đổi, chương trình “tín phiếu bắt buộc” do Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quyết định sẽ có hiệu lực. Theo chương trình này, 41 ngân hàng thương mại phải mua tín phiếu do Ngân Hàng Nhà Nước phát hành lên đến 20 ngàn 300 tỷ đồng Việt Nam với lãi suất 7,8%.

Việc Ngân Hàng Nhà Nước đưa ra một quyết định hành chánh, yêu cầu tư nhân mua tín phiếu mà họ biết chắc chắn mình sẽ lỗ vì lạm phát hiện cao gấp đôi lãi suất do nhà nước đưa ra, có những bất cập ra sao? Và liệu có thể giúp giải quyết tình trạng lạm phát hiện nay như thế nào?
Vai trò của Ngân hàng Trung ương
"Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cần phải được tái cấu trúc vì ngân hàng này được thiết kế và phát triển cho một hệ thống kinh tế khác với hệ thống kinh tế ngày nay. Một nền kinh tế hiện đại cần có một ngân hàng trung ương hiện đại." Đó là lời phát biểu của kinh tế gia Jonathan Pincus, chuyên viên nhiều kinh nghiệm của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc, UNDP, tại Việt Nam.
Bản tin của Vietnam Economy ra ngày 3 tháng Ba cho biết lời phát biểu trên được đưa ra trong một cuộc họp báo được chọn lọc và tổ chức tại Hà Nội hồi thứ Năm vừa qua. Kinh tế gia Pincus khẳng định rằng, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cần phải cải tổ để làm việc hiệu quả hơn và minh bạch hơn.
Ông Pincus đi vào chi tiết, gợi ý rằng, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam phải cẩn trọng hơn để tránh đưa ra những quyết định như thời gian vừa qua, trong đó có việc ra lệnh các ngân hàng thương mại phải mua tín phiếu bắt buộc lên đến 20 ngàn 300 tỷ đồng Việt Nam bắt đầu vào ngày 17 tháng Ba tới đây.
Quyết định của Ngân Hàng Nhà Nước đã gây nên sự tranh cãi của nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước, trong đó đại đa số chỉ trích tính cách hành chánh được áp dụng vào một thị trường tài chánh đang đi dần vào con đường kinh tế thị trường.
Từ Hoa Kỳ, nhà phân tích kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nói rằng một quyết định mang tính hành chánh như vậy là rất đáng buồn.
“Đây là một quyết định hành chánh hơn là nương theo quy luật cung cầu của kinh tế thị trường. Việt Nam đang bị lạm phát chủ yếu là lạm phát tiền tệ nên Ngân Hàng Nhà Nước muốn hút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế. Nhưng một quyết định hành chánh như vậy cho thấy tình trạng quản lý tệ trong khi dư luận thế giới đang kỳ vọng vào Việt Nam.”
Tín phiếu bắt buộc
Vào trung tuần tháng Hai vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước thông báo rằng cơ quan này phát hành tín phiếu bắt buộc bằng tiền đồng đối với 41 ngân hàng thương mại tại Việt Nam nhằm mục đích “chủ động rút tiền từ lưu thông về, kiểm soát chặt chẽ tiền tệ ngay từ đầu năm nhằm góp phần kiềm chế lạm phát.”
Đợt phát hành này có tổng giá trị lên đến hơn 20 ngàn tỷ đồng, tín phiếu có thời hạn 364 ngày và lãi suất được trả là 7,8%.
Thông báo chương trình tín phiếu bắt buộc ngay lập tức gây hoang mang trong dư luận và tạo ra phản ứng dây chuyền trong hệ thống lãi suất trên thị trường. Bản tin của VnExpress cho biết ngay sau khi quyết định được ban hành, nhiều ngân hàng đã phải họp khẩn cấp để tìm biện pháp ứng phó tình trạng căng thẳng nguồn vốn bằng tiền đồng.
Liền sau đó, nhiều ngân hàng đã tham gia đấu giá khoản vay ngắn hạn 1 ngàn tỷ đồng khiến lãi suất vay nóng qua đêm bị nâng lên đến 30%.
Chưa hết, đứng trước tình trạng bị lau khô vốn lên đến hơn 20 ngàn tỷ, cộng thêm tình trạng khủng hoảng thiếu tiền thanh khoản, hệ thống ngân hàng thương mại bắt đầu lao vào một cuộc chiến lãi suất khốc liệt để dành lấy nguồn vốn từ tiền tiết kiệm của người dân. Lãi suất bị đẩy lên cao, Ngân Hàng Nhà Nước ra yêu cầu không được nâng lãi suất tiền đồng vượt quá 12% một năm.
Ngay lập tức, các ngân hàng thương mại đối phó bằng các hình khuyến mãi bằng cách tặng vàng cho người gởi tiền. Trước tình trạng ấy, ông Hồ Hữu Hạnh, Giám Đốc Chi Nhánh Sài Gòn của Ngân Hàng Nhà Nước tuyên bố sẽ xử phạt các ngân hàng áp dụng hình thức tặng thưởng để kéo luồn tiền gởi về phía mình gây ra hỗn loạn trên thị trường tiền tệ.
Trong lúc các ngân hàng cổ phần tranh đua quyết liệt để dành nguồn vốn, bản tin của VnEconomy ra ngày 21 tháng Hai cho biết, hai ngân hàng thương mại quốc doanh là Ngân Hàng Ngoại Thương và Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn đang thừa vốn khả dụng.

Một chuyên viên ngân hàng tại Sài Gòn, yêu cầu không nêu tên, nói về tình hình hệ thống ngân hàng thương mại trong tuần qua:
“Tuần vừa rồi là một tuần rất lộn xộn, có thể nói là một tinh thần khủng hoảng. Các ngân hàng tư phải chạy đôn chạy đáo vay mượn để đáp ứng được mức dự trữ bắt buộc. Bình thường lãi suất vay nóng như thế này chỉ vào khoảng 6, hay 7%, tuần này lãi suất đó lên đến 43%. Tất cả đều thiếu tiền, tất cả đều muốn vay nên đẩy tình trạng lãi suất lên đến như vậy.”
Một người khác, sống tại Sài Gòn, một “nhân chứng” của cuộc chạy đua lãi suất tiền gởi tiết kiệm, kể lại:
“Vì muốn giảm lạm phát nên chính phủ đã buộc các ngân hàng mua trái phiếu của chính phủ theo qui mô của từng ngân hàng tùy theo mức vốn. Vì tình trạng thiếu vốn để mua trái phiếu chính phủ bắt buộc, nên các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất.
Cụ thể như tôi gởi 100 triệu đồng thì mỗi tháng được lời 700 ngàn đồng hoặc 725 ngàn đồng tùy theo thời điểm, thường thường nó tăng chỉ khoảng 0,1% 0,2% thôi thì vừa rồi tăng hẳn 1% một tháng, sau đó những ngân hàng như Việt Á, ngân hàng Saigon-Hà Nội tăng lên mức 1,3% một tháng tức là hơn 13% năm. Những ngân hàng lớn không thiếu tiền đồng thì không tăng lãi sưất nhiều, vì thế người dân như chúng tôi rút hết tiền ra để chuyển sang ngân hàng có lãi suất cao hơn.”
Chính sách đối phó với lạm phát?
Điều lạ lùng, cùng khoản thời gian Ngân Hàng Nhà Nước lau khô vốn bằng quyết định hút hơn 20 ngàn tỷ đồng ra khỏi nền kinh tế, cũng chính Ngân Hàng Nhà Nước lại bơm vào nền kinh tế một khoản khác, lớn hơn, lên đến 33 ngàn tỷ đồng để giải quyết tình trạng thiếu hụt thanh khoản.
Trong cùng thời điểm sự thiếu hụt thanh khoản lên cao, bản tin của tờ Financial Times ra ngày 27 tháng Hai cho biết công ty Morgan Stanley đã được một giấy phép đặc biệt của chính phủ Việt Nam thanh toán tiền mua cổ phần của Công Ty Tài Chánh Dầu Khí bằng đô la.
Cho đến nay, pháp lệnh Việt Nam qui định tất cả các doanh nghiệp nước ngoài góp vốn mua cổ phần trong lãnh thổ Việt Nam phải thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam.
Tình trạng các cơ quan nhà nước đưa ra những chính sách khác nhau, đôi khi trái ngược nhau, chẳng hạn trong khi Ngân Hàng Nhà Nước cho hút tiền vào, Bộ Tài Chánh lại nói cần phải xem xét lại quyết định ấy, trong khi pháp lệnh thì yêu cầu công ty cổ phần từ nước ngoài vào Việt Nam phải thanh toán bằng tiền đồng, thì Văn Phòng Thủ Tướng cho phép một liên doanh được thanh toán bằng tiền đô la, có thể tạo tâm lý bất ổn ra sao? Ông Nguyễn Xuân Nghĩa nhận định.
“Còn có thêm một cơ quan thứ ba nữa cũng quyết định là Văn Phòng Thủ Tướng khi cho phép công ty Morgan Stanley nộp 10% phần hùn vào Công Ty Tài Chánh Dầu Khí là 217 triệu đô la, thanh toán bằng đô la. Chúng ta thấy Ngân Hàng Nhà Nước thì muốn hút tiền vào, Bộ Tài Chánh thì nói đừng, nên hoãn. Đối với giới quốc tế mang tiền vào Việt Nam thì họ thấy những quyết định như vậy sẽ khiến họ hoang mang về mặt quản lý.”
Trở lại quyết định tín phiếu bắt buộc, một trong những điều phi lý nhất là các ngân hàng thương mại bị buộc phải mua tín phiếu để đầu tư vào một chương trình do nhà nước yêu cầu mà người đầu tư biết chắc chắn mình sẽ lỗ.
Chương trình tín phiếu này sẽ trả cho các ngân hàng thương mại một lãi suất bằng 7,8% một năm trong khi lạm phát hiện nay là trên 15% một năm. Nói cách khác, nếu dùng 100 đồng đi mua tín phiếu, sau một năm sẽ được 107,8 đồng nhưng sức mua của số tiền này còn xấp xỉ 90 đồng.
Bên cạnh đó, do bị hút vốn trong chương trình tín phiếu bắt buộc, các ngân hàng thương mại sẽ lâm vào tình trạng kẹt vốn, và từ đó phải cạnh tranh rất mạnh về mặt lãi suất để huy động tiền tiết kiệm. Một chuyên viên ngân hàng tại Sài Gòn nói thẳng:
“Phải huỷ chương trình tín phiếu bắt buộc, nếu không sẽ gây nên một sự khủng hoảng ngân hàng.”
Từ Sài Gòn, tiến sĩ Phạm Đỗ Chí trả lời trên tờ Tuổi Trẻ số ra ngày 2 tháng Ba cho rằng cần phải dùng một biện pháp khác, thích hợp hơn. Đó là bán các tín phiếu ngân hàng với lãi suất cao hơn. Hiển nhiên, nhận định của tiến sĩ Chí có hai điểm đáng lưu ý, thứ nhất, không nên bắt buộc các ngân hàng thương mại phải mua tín phiếu bằng biện pháp hành chánh, và thứ hai, chính lãi suất của tín phiếu phải đủ cao để tạo nên sự hấp dẫn với người mua.
Tiến sĩ Phạm Đỗ Chí cũng đặc biệt nhấn mạnh là Ngân Hàng Nhà Nước có thể gia hạn linh hoạt việc áp dụng tín phiếu bắt buộc theo nhu cầu khối dự trữ của các ngân hàng và tình hình tiền tệ vĩ mô.
Trên thực tế, việc áp dụng tín phiếu bắt buộc có thể “chủ động rút tiền từ lưu thông về, nhằm góp phần kiềm chế lạm phát” như Ngân Hàng Nhà Nước mong muốn? Cũng trên Tuổi Trẻ, tiến sĩ Phạm Đỗ Chí viết rằng, “lạm phát có tầng ngầm.”
Tầng ngầm xuất phát sâu xa, để lại hệ quả lâu dài trên lạm phát, chính là khu vực công, là sự tiếp tục đòi hỏi nguồn tài trợ tín dụng cao, là các xí nghiệp quốc doanh làm ăn thiếu hiệu quả, gây thất thoát tư bản tạo áp lực lên khối tiền tệ. Ông cho rằng, thậm chí việc duy trì đầu tư cao cho khu vực công sẽ làm cạn nguồn tín dụng cho khu vực tư, là khu vực có hiệu quả cao hơn.
Hôm đầu tháng Ba, Bộ Trưởng Tài Chánh Việt Nam, ông Vũ Văn Ninh, nói rằng tình trạng lạm phát khiến ông như “ngồi trên lửa.”
Tuy nhiên, khi nhận xét về mặt chính sách, ông Bộ Trưởng, một mặt thừa nhận có những “bất cập,” một mặt khác khẳng định “không có sai lầm trong chính sách điều hành tiền tệ.”
