Thiện Giao, phóng viên đài RFA
Cuối tháng Ba vừa qua, thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, cho phổ biến bài viết công phu, được xem là lần đầu tiên người đứng đầu chính phủ Việt Nam lên tiếng chính thức về tình trạng lạm phát tại Việt nam hiện nay. Bài viết gồm 7 điểm nói về lạm phát, giải pháp, và các chính sách trợ giúp những thành phần dân chúng bị ảnh hưởng nặng nhất.

Liệu những giải pháp ấy có khả năng giải quyết tận gốc tình trạng lạm phát hiện nay? Liệu thời điểm ra đời của bài viết có thể ngăn chặn tình trạng “tâm lý lạm phát” như nhiều nhà nghiên cứu gợi ý? Biên tập viên Thiện Giao trình bày bài thứ nhất trong 2 phần tìm hiểu sau đây.
Giải pháp 7 điểm
Bài viết, gọi nôm na là “giải pháp 7 điểm,” được đăng trên báo chí Việt Nam cách đây ít hôm có thể xem là lần đầu tiên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên tiếng chính thức về tình hình lạm phát hiện nay.
Giới nghiên cứu và cả giới đầu tư, trong chừng mực nào đó, tỏ ra hài lòng với bài viết được xem như kế hoạch tổng quát, đồng bộ và lâu dài cho nền kinh tế Việt Nam.
“Đúng, nhưng chưa đủ,” và có vẻ thiên về mục đích khôi phục lòng tin trong bối cảnh tâm lý lạm phát lan truyền đến mức nguy hiểm trong dư luận, là nhận định mà giới nghiên cứu đưa ra về bài viết này.
“Tâm lý lạm phát bùng nổ rồi. Tôi có cảm giác, dân Việt Nam không còn tin vào chính phủ. Tôi hy vọng người dân tin vào bức thư này.”
Tâm lý lạm phát bùng nổ rồi. Tôi có cảm giác, dân Việt Nam không còn tin vào chính phủ. Tôi hy vọng người dân tin vào bức thư này.
Đó là lời phát biểu của tiến sĩ Vũ Quang Việt, một cựu chuyên viên kinh tế cao cấp của Liên Hiệp Quốc.
Bài viết của ông Nguyễn Tấn Dũng được thực hiện công phu, bao gồm 7 giải pháp mà chính phủ sẽ dựa trên đó để khống chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời tiến hành thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Cả 7 giải pháp đưa ra đều nói về lạm phát, các giải pháp khống chế lạm phát, và các chính sách giúp đỡ những thành phần dân chúng bị ảnh hưởng nặng nhất bởi lạm phát.
Thắt chặt kiểm soát tiền tệ
Khía cạnh được nhắc đến đầu tiên trong bài viết của thủ tướng Dũng là kế hoạch thắt chặt tiền tệ, với sự thừa nhận, rằng “lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ.” Đây không phải là lần đầu tiên người ta nhắc đến lượng cung tiền trong nền kinh tế.
Trên tờ Lao Động trong một bài báo được đăng gần đây, tiến sĩ Vũ Quang Việt, dựa vào số liệu do báo chí trong nước đưa ra, phân tích con số cung tiền đến chóng mặt mà Ngân Hàng Nhà Nước tung vào nền kinh tế nửa đầu năm 2007: đó là tăng gần 35% so với cuối năm 2006 chỉ để dùng vào một mục đích là mua ngoại tệ:
“Luôn luôn là như vậy, nếu nhìn vào sự thiếu hụt ngân sách Việt Nam thì thấy. Không một nước nào cho phép thiếu hụt trên 3% của GDP, mà hiện nay Việt Nam thâm hụt đến 6% hoặc hơn, mà cũng không thể nắm được vấn đề thiếu hụt vì ngân sách không minh bạch.
Bây giờ thiếu hụt thì có thể vay của dân, hoặc bắt Ngân Hàng Nhà Nước in tiền ra mua ngoại tệ. Dân mua thì không sao, còn Ngân Hàng mua thì Ngân Hàng in tiền ra. Nếu Ngân Hàng làm chuyện đó thì tiền Việt Nam lan tràn ra thị trường, sinh ra lạm phát.
Bài viết của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có đoạn, rằng “chính phủ chủ trương kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng ngày từ đầu năm. Ngân Hàng Nhà Nước, thông qua việc chủ động, linh hoạt sử dụng hợp lý các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để thực hiện bằng được yêu cầu này.”

Tuy nhiên, việc giảm lượng cung tiền như được đề cập trong bài viết, không phải dễ dàng thực hiện. Một trong những yếu tố khiến lượng cung tiền tăng cao là do những chi tiêu của chính phủ và các chính sách đầu tư công.
Trong một nhận định liên quan đến chi tiêu công, tiến sĩ Vũ Quang Việt đặt câu hỏi về nguồn tiền mà chính phủ tiêu dùng. Một trong các phương cách để chính phủ có tiền sử dụng cho các chính sách công là bán trái phiếu; mà việc bán trái phiếu lại liên quan trực tiếp đến việc in tiền và sự cạnh tranh lãi suất giữa nhà nước với khu vực tư nhân:
“Giảm không nghĩa là cất tiền đi, mà là tăng ở mức chấp nhận. Điều quan trọng là phải cắt giảm chi tiêu. Nếu chi tiêu nhiều, nhà nước phải bán trái phiếu để thu tiền, nhưng lãi suất phải đủ cao để hấp dẫn người gởi.
Lãi suất cao, các nhà sản xuất tư nhân, nhỏ, vừa không kham nổi, còn nhà nước thì cứ tiếp tục in trái phiếu mà bán, cứ như thế cho đến khi nền kinh tế hoàn toàn suy sụp.”
Cắt giảm đầu tư công
Trong giải pháp thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách. Có lẽ đây là một trong những điều được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian qua.
Bài báo ra ngày 6 tháng Ba của Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn cho biết nguyên Bộ Trưởng Bộ Thương Mại Trương Đình Tuyển gần đây đã lên tiếng kêu gọi cắt giảm đầu tư công không hiệu quả.
Đầu tư công hiện nay rất dàn trải. Không những đầu tư vào lãnh vực do nhà nước làm, Việt Nam đầu tư công vào cả các lãnh vực thương mại. Các lãnh vực này đáng lẽ do tư nhân hay đầu tư nước ngoài làm, và làm tốt hơn, hiệu quả hơn.
Bài báo cũng nêu ra những khuyến cáo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, rằng lượng vốn đầu tư cho các xí nghiệp quốc doanh chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư nhưng không mang lại hiệu quả cao.
Trong một cuộc phỏng vấn với đài Á Châu Tự Do cách đây ít lâu, tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng đã nhận định rằng cần phải có sự rà soát kỹ càng khu vực công và nếu cần thì phải cắt giảm các chương trình kém hiệu quả:
“Đầu tư công hiện nay rất dàn trải. Không những đầu tư vào lãnh vực do nhà nước làm, Việt Nam đầu tư công vào cả các lãnh vực thương mại. Các lãnh vực này đáng lẽ do tư nhân hay đầu tư nước ngoài làm, và làm tốt hơn, hiệu quả hơn.
Chẳng hạn, tỷ suất đầu tư công cho 1 triệu tấn thép hay xi măng thường cao hơn rất nhiều do nước ngoài hoặc tư nhân làm, cho nên việc cắt giảm các chương trình công kéo dài quá lâu, kém hiệu quả là điều rất cần thiết.”
Trong một tài liệu do các giáo sư thuộc chương trình Việt Nam của Đại Học Harvard thực hiện và phổ biến gần đây, các tác giả chỉ ra rằng, sự yếu kém trong đầu tư công là một trong các nguyên nhân đưa đến lạm phát.
Điều đáng nói, cho đến nay, một tỷ lệ rất lớn của tín dụng vẫn được dành riêng cho các xí nghiệp quốc doanh kém hiệu quả.
Các giáo sư đại học Harvard cũng nhắc đến việc, Việt Nam hiện nay có quá nhiều sự tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi.
Phải chăng, vì sự tồn tại và vì ảnh hưởng ngày càng lớn của các nhóm đặc quyền đặc lợi mà chính sách công vẫn cứ chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế?
Cũng trong một bài phỏng vấn với đài Á Châu Tự Do, tiến sĩ Lê Đăng Doanh thừa nhận rằng việc cắt giảm đầu tư công sẽ khó thực hiện, sẽ là một thách thức đối với chính phủ. Ông cho rằng việc cắt giảm khu vực công khó khăn ở chỗ, đây là “nồi cơm chung ai cũng muốn tham gia.”
Nhận định về giải pháp giảm đầu tư công, tiến sĩ Vũ Quang Việt cho rằng, cắt là đúng, nhưng vấn đề là cắt ở đâu:
“Cắt ở đâu? Chẳng lẽ chúng ta cắt ngân sách trường học. Lương giáo viên đã thấp, cắt lương 10% thì lấy gì họ sống? Cái chính yếu là phải cắt những nơi chi tiêu lớn mà không hiệu quả. Chẳng hạn công ty đóng tàu biển, đang lỗ.
Các công ty nhà nước cứ liên tục chơi chứng khoán, lập công ty này công ty nọ, lập ngân hàng… cứ tiếp tục lỗ mà nhà nước cứ tiếp tục bơm tiền vào. Liệu ông thủ tướng có dám cắt mấy chỗ này không?”
Đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu
Các giải pháp, số 3 và 4, trong bài viết của ông Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp bàn đến những cơ chế đảm bảo cung cầu về hàng hoá, một mặt để tăng trưởng kinh tế, một mặt để đẩy mạnh xuất khẩu, giảm tình trạng nhập siêu đang rất cao của Việt Nam.
Bài báo viết: “Tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn lớn, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên đầy đủ của tổ chức Thương Mại Thế Giới, đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại không gây phản ứng phụ.”
Những giải pháp vừa được đề cập liên quan trực tiếp đến những chính sách dành cho đầu tư trong lãnh vực tư nhân. Cho đến nay, đầu tư tư nhân, là khu vực cần vốn rất lớn, phải chịu sự cạnh tranh với khu vực công.
Đây cũng là một thắc mắc mà tiến sĩ Vũ Quang Việt nêu ra, đó là, nếu chi tiêu của chính phủ thâm hụt, và chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn từ dân, hệ quả là nguồn vốn nhàn rỗi, khả dụng cho tư nhân giảm xuống, gây áp lực nặng nề lên các hoạt động kinh tế khu vực tư.
Chúng ta vừa theo dõi sơ lược các ý kiến của giới chuyên gia về những giải pháp chống lạm phát trong bài viết của thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, được phổ biến cách đây ít hôm.
Trong phần thứ nhì, biên tập viên Thiện Giao sẽ tiếp tục tìm hiểu vấn đề này, nhằm trả lời câu hỏi: liệu “giải pháp 7 điểm” có đã bao hàm tất cả những hành động cần thiết để chống lại lạm phát phi mã hiện nay?
|
|
Phần âm thanh |
|
|
Tải xuống âm thanh |
|
|
Email bản tin này |
|
|
Đăng ký bản tin |
|
|
In bản tin này |