Gia Minh, phóng viên đài RFA
Một trong những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam được nhiều người nói đến trong những năm qua, nhất là sau khi Việt Nam cho mở cửa vào giữa thập niên 80 là nguồn lao động dồi dào, cần mẫn và lương hạ hơn so với một số nước khác trong khu vực. Vậy lực lượng đó hiện nay có những đặc điểm gì khác so với thời kỳ trước kia?

Đổi thay rõ nét mà người ta có thể nhận thấy ở Việt Nam hiện nay cùng với việc bao công trình xây dựng mọc lên tại nhiều thành phố lớn nhỏ, đó là sự xuất hiện của cả trăm khu công nghiệp, chế xuất, kinh tế ở hầu như khắp 64 tỉnh thành trong cả nước. Thống kê chính thức của Bộ Kế họach- Đầu tư cho thấy tính đến tháng 8 vừa qua Việt Nam đã có tất cả 150 khu công nghiệp.
Những khu sản xuất này thu hút chủ yếu lực lượng lao động trẻ Việt Nam. Cảnh hằng ngàn công nhân tan ca tỏa ra các ngõ đường quanh các khu công nghiệp, khu chế xuất góp thêm phần vào sự nhộn nhịp thường nhật của các thành phố lớn như ở Khu Chế xuất Tân Thuận, Linh Trung… tại Sài Gòn hoặc các khu công nghiệp ở Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Đà Nẵng.
Phần đông tập thể công nhân này nay không còn là những người thợ chân lấm tay bùn, mặt mày lem luốc như ở các nơi được xem là chiếc nôi của công nhân Việt Nam tại Quảng Ninh, Thái Nguyên, hay tại những đồn điền cao su miền Đông Nam Bộ trước kia… Theo ngôn ngữ dân gian thọat nhìn họ được 'ăn trắng, mặc trơn' bởi suốt ngày được ngồi làm việc trong im mát, không phải đày thân dưới nắng mưa, bụi bặm.
Theo thống kê chính thức thì hiện nay nông thôn vẫn chiếm đến chừng 70 phần trăm dân số cả nước; thế nhưng tỷ lệ này đang ngày càng giảm bớt bởi lẽ số lao động trẻ ở nông thôn đang dịch chuyển về các thành phố lớn để làm việc trong các khu công xưởng nhà máy sản xuất.
Tập trung lên thành phố
Ngoài ra, với chính sách mở thông thóang cho tư nhân tham gia sản xuất, dịch vụ, nhiều cơ sở tư nhân ra đời và thu dụng nhiều nhân công hơn. Mức cung lớn này, cùng với sức hấp dẫn của cuộc sống chốn phồn hoa đô hội là động lực chính hút bao bạn trẻ nông thôn vào dòng cuốn trở thành người công nhân phố thị.
Xu hướng này cũng tương hợp với một tiêu chí quốc gia công nghiệp mà Hà Nội vừa nêu ra là vào năm 2020 tỷ lệ dân số thành thị sẽ tăng lên 50% so với mức hiện nay.
Dòng người đó đang ngày càng tăng lên, chủ yếu tập trung tại ba thành phố lớn: Tp HCM, Hà Nội, Đà Nẵng. Chủ yếu họ đi tìm việc để tăng thu nhập.
Giáo sư Tô Duy Hợp thuộc Viện Xã hội học tại Hà Nội trình bày khuynh hướng lao động nông thôn đang chuyển lên thành phố tham gia lực lựong lao động công nghiệp:
“Dòng người đó đang ngày càng tăng lên, chủ yếu tập trung tại ba thành phố lớn: Tp HCM, Hà Nội, Đà Nẵng. Chủ yếu họ đi tìm việc để tăng thu nhập.”
Tại thành phố số lao động được thu nhận chủ yếu vào làm ở các cơ xưởng sản xuất trong các khu công nghiệp, xưởng sản xuất. Cho đến nay vẫn chưa có con số thống kê chính xác tổng số lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu kinh tế ở Việt Nam; thế nhưng một báo cáo khảo sát của Viện Công Nhân & Công Đoàn công bố hồi tháng 8 vừa qua cho thấy chỉ riêng ở Bình Dương, tỉnh đứng đầu với hơn 1400 dự án, tổng công nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho đến nay lên đến gần 500 ngàn người. Xếp thứ nhì là Đồng Nai với chừng 250 ngàn, và Thành phố Hồ Chí Minh là gần 170 ngàn.
Trình độ học vấn
Tỷ lệ các bạn công nhân từ 18 đến 30 tuổi làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đến trên 70%. Trình độ học vấn của họ không cao hơn so với mặt bằng chung.
Ông Đào Văn Thụy, một kỹ sư từng theo dõi sát tình hình người công nhân Việt Nam ở các khu công nghiệp miền Bắc nói về trình độ của những thanh niên nông thôn ra thành phố làm việc cho các công ty sản xuất trong và nước ngoài: "Chủ yếu trình độ học vấn thấp, ít người học hết lớp 12."
Với trình độ học vấn và tay nghề thực tế của những lao động trẻ Việt Nam, số làm các công việc đơn giản trong các chuyền may hay da giày là chủ yếu. Riêng trong ngành may gia công thì số công nhân nay được cho biết lên đến cả hai triệu người.
Theo khảo sát của Viện Công nhân & Công Đoàn thì số lao động nữ trong ngành may mặc cao gấp ba lần nam giới. Về tình hình lao động trong ngành này thì ông Diệp Thành Kiệt, chủ nhiệm Ủy ban Nhân lực của Hiệp Hội Dệt May Việt Nam đánh giá như sau:
“Ngắn gọn thì dùng hai từ thiếu và yếu cho ngành dệt may Việt Nam. Nói thế thì có người nói là bi quan, nhưng tôi làm lâu trong ngành thì hai từ đó là chính xác. Thiếu thì ai cũng công nhận; yếu là do từ kinh nghiệm đi lên, không được đào tạo bởi những phương pháp hiện đại.”
Gần đây, có những người lao động sau một thời gian làm việc cho một công ty, cơ xưởng nào đó mà họ có những điều không mấy hài lòng cũng đã tìm cách đến nơi khác để làm việc. Tình hình này diễn ra vào những thời điểm mà nhu cầu hoàn thành đơn hàng tăng cao.
Giai cấp công nhân
Mới hồi trung tuần tháng 10 vừa qua, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có hội nghị các cán bộ chủ chốt của tổ chức này để bàn về vấn đề lý luận cơ bản đối với giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo nghị quyết của Đảng đề ra.
Ông phó chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam, Nguyễn Hoà Bình. Tại hội nghị vừa qua cho rằng do đa số công nhân lao động mới được bổ sung từ con em nông dân nên trình độ chuyên môn nghề nghiệp còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp chưa cao.
Còn tầng lớp mà trước đây được mệnh danh là giai cấp công nhân Việt Nam thì ra sao? Ông Nguyễn Thanh Giang, một người từng bỏ công nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam cho biết:
“Đây là vấn đề cơ bản của Đảng vì Đảng luôn tuyên bố là đội tiền phong của giai cấp công nhân; nhưng thực ra ở Việt Nam chưa hề có một giai cấp công nhân theo đúng định nghỉa mà Lênin đề ra. Vì Việt Nam chưa hề có nền đại công nghiệp.
Hồi thời năm 30, công nhân chủ yếu là nông dân không có công ăn việc làm và đi làm thủ công lẻ tẻ chứ chưa hề có ý thức, tư tưởng của người công nhân đại công nghiệp. Ngay cả người mà sau này tổng bí thư của đảng là ông Đỗ Mười khai rằng ông là công nhân thì cũng không đúng.”
Qua dòng thời gian bao yếu tố khách quan làm thay đổi nhận thức, tính chất công việc, hành xử trong cuộc sống và thu nhập từ mức lương mà người công nhân nhận được cho sức lao động mà họ bỏ ra cũng đổi khác.
