Phương thức đo lường sức mạnh và tiến bộ kinh tế của một quốc gia

0:00 / 0:00

Giáo sư Nguyễn Quốc Khải - Việt Long, RFA

Nền kinh tế Việt Nam được nhìn nhận đã tăng trưởng rất nhanh chóng trong nhiều năm gần đây, đem lại sự phấn khởi cho người dân cũng như chính quyền trong nước. Tuy nhiên, làm thế nào để đo lường được mức độ tiến bộ kinh tế sát thực với thực tế của một quốc gia? Việt Long phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Quốc Khải về để tài này.

EconomicConference200.jpg
Hội nghị về phát triển kinh tế và thị trường tài chính tại Hà Nội hôm 23-1-2007. AFP PHOTO

Ông Nguyễn Quốc Khải từng là chuyên viên của Ngân hàng Thế giới World Bank, và từng có thời gian giảng dạy tại trường Cao học Quốc tế vụ thuộc Viện Đại học Johns Hopkins của Hoa Kỳ.

Việt Long: Trong lúc người dân cùng Nhà nước Việt Nam đều lạc quan về sự tiến bộ kinh tế nhanh chóng, và nhiều định chế quốc tế cũng nhìn nhận đìêu này, thì chúng tôi muốn nhờ GS trình bày những phương thức đo lường sức mạnh và sự tiến bộ kinh tế của một quốc gia. Trước hết, cách thông thường nhất là cách nào?

Nguyễn Quốc Khải: Thông thường người ta dùng GDP để đo lường mức tiến bộ của một quốc gia. Về mặt sản xuất, GDP là trị giá tổng số sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ mà những cư dân kể cả người ngoại quốc đang sống trong quốc gia đó sản xuất.

Về mặt tiêu thụ, GDP bao gổm tiêu thụ tư nhân, tiêu thụ của khu vực nhà nước, đầu tư thương mại kể cả mua bất động sản, xuất cảng (sản xuất cho nước ngoài tiêu thụ), và khấu trừ nhập cảng

Trong số 181 quốc gia mà Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund – IMF) có dữ liệu, kinh tế Việt-Nam được xếp vào hạng thứ 59 với GDP trị giá 51.4 tỉ Mỹ kim (MK) vào năm 2005. Đứng đầu là Hoa-Kỳ với 12,455.8 tỉ MK. Trung Quốc (không kể Hồng Kông và Ma Cao) đứng hạng thứ 4 với 2,234.1 tỉ MK. Thái Lan ở thứ 36 với 173 tỉ MK.

Để loại trừ ảnh hưởng của dân số, những nhà kinh tế thường tính GDP trung bình cho mỗi đầu người bằng cách chia trị giá GDP cho dân số. Trong trường hợp này, với 618 MK Việt-Nam được xếp vào hạng 143 trong 180 nước. Đứng đầu danh sách là Lục Xâm Bảo với 80,288 MK. Hoa-Kỳ tụt xuống hạng 8 với 42,000 MK.. Thái Lan thứ 94 với 2,659 MK và Trung Quốc thứ 110 với 1,709 MK.

Trong số 181 quốc gia mà Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund – IMF) có dữ liệu, kinh tế Việt-Nam được xếp vào hạng thứ 59 với GDP trị giá 51.4 tỉ Mỹ kim (MK) vào năm 2005. Đứng đầu là Hoa-Kỳ với 12,455.8 tỉ MK. Trung Quốc (không kể Hồng Kông và Ma Cao) đứng hạng thứ 4 với 2,234.1 tỉ MK. Thái Lan ở thứ 36 với 173 tỉ MK.

Cách khắc phục

Việt Long: Dùng GDP có thể có khiếm khuyết nào không? Có cách nào khắc phục những khiếm khuyết đó không?

Nguyễn Quốc Khải: Phương pháp vừa trình bày ở trên dùng hối suất trên thị trường chuyển đổi GDP tính theo tiền của mỗi quốc gia ra thành Mỹ kim để so sánh. Phương pháp này đã bỏ qua một yếu tố quan trọng là tiền của mỗi quốc gia có mãi lực khác nhau, nhất là đối với những sản phẩm và dịch vụ không trao đổi ra khỏi biên giới quốc gia.

Thí dụ một đồng Mỹ kim mua được nhiều thứ ở Việt-Nam hơn là ở Hoa-Kỳ. Giá một tô phở ở Việt-Nam là khoảng 1/2 MK so với 6 MK ở Hoa-Kỳ. Mãi lực đồng tiền khác nhau rất nhiều giữa các nước.

Do đó để tránh sai lệch trên, thay vì dùng hối suất hiện hành trên thị trường thường hay lên xuống thất thường, các kinh tế gia dùng hối suất dài hạn dựa trên giá cả mua một nhóm sản phẩm và dịch vụ tại những quốc gia khác nhau. GDP được hoán đổi sang Mỹ kim bàng hối suất đặc biệt này được gọi là tổng sẩn phẩm nội địa tính theo mãi lực quân bình (GDP at purchasing power parity).

Trong 181 quốc gia, Việt-Nam ở vào hạng thứ 123 với GPD theo mãi lực quân bình cho mỗi đầu người là 3,025 MK trong năm 2005. Đứng đầu là Lục Xâm Bảo với 69,800 MK. Hoa-Kỳ 41,399 MK. Thái Lan ở hạng 69 với 8,368 MK và Trung Quốc đứng thứ 87 với 7,213 MK.

Việt Long: Còn cách nào tốt hơn nữa?

Nguyễn Quốc Khải: Trong khi GDP quân bình đầu người cho thấy lợi tức trung bình tại mỗi quốc gia, nhưng những con số này không trình bầy những khía cạnh khác của đời sống con người.

Vào năm 1990, TS Mahbub ul Haq, kinh tế gia người Pakistan, đã nghĩ ra chỉ số phát triển con người (human development index – HDI) để đánh giá thành quả kinh tế của mỗi nước qua ba khía cạnh phát triển con người.

Phúc trình của Liên Hiệp Quốc 2006 về Phát Triển Con Người dựa theo dữ kiện của năm 2004 xếp Việt-Nam vào hạng thứ 109 trong số 177 quốc gia điều nghiên. Đứng đầu là Na Uy. Hoa-Kỳ đứng hạng thứ 8. Trong khi đó thứ hạng của Thái Lan và Trung Quốc lần lượt là 74 và 81.

Thứ nhất là mức sống dựa trên tổng sản phẩm nội địa đầu người theo mãi lực quân bình. Thứ hai là sức khoẻ đo bằng tuổi thọ ước tính từ lúc sinh. Thứ ba là trình độ giáo dục đo lường bằng số người lớn biết đọc biết viết (tỉ lệ 2/3) và tổng số học sinh từ cấp tiểu học lên đến đại học (tỉ lệ 1/3). HDI là trung bình của ba tỉ số GDP, tỉ số tuổi thọ, và tỉ số học vấn.

Phương pháp HDI này đã được Liên Hiệp Quốc áp dụng kể từ năm 1993 để so sánh các quốc gia trong phúc trình hàng năm.

Phúc trình của Liên Hiệp Quốc 2006 về Phát Triển Con Người dựa theo dữ kiện của năm 2004 xếp Việt-Nam vào hạng thứ 109 trong số 177 quốc gia điều nghiên. Đứng đầu là Na Uy. Hoa-Kỳ đứng hạng thứ 8. Trong khi đó thứ hạng của Thái Lan và Trung Quốc lần lượt là 74 và 81.

Chỉ số phát triển con người đã mở rộng tầm nhìn về sự sức mạnh và tiến bộ kinh tế của mỗi quốc gia bằng cách liên kết lợi tức kinh tế với an sinh xã hội. Tuy nhiên chỉ số phát triển con người này vẫn chỉ có một giá trị tương đối vì chưa thật sự đo lường đầy đủ về sự phát triển toàn diện của con người. Thí dụ như hai chỉ số tuổi thọ và học vấn không nói lên được phẩm chất của chế độ y tế và giáo dục rất yếu kém hiện nay của Việt-Nam.

Chỉ số nghèo đói

Việt Long: Vần đề song song với chỉ số phát triển là chỉ số nghèo đói nữa. Ông trình bày giúp về chỉ số này.

Nguyễn Quốc Khải: Đối với những nước kém phát triển như Việt-Nam, những nhà xã hội học và kinh tế gia còn chú trọng đến tình trạng thiếu ăn thiếu mặc ở những quốc gia này.

Vào đầu thập niên 1990 Việt-Nam định nghĩa một gia đình ở trong tình trạng thiếu ăn nếu mỗi người trong gia đình mỗi tháng có dưới 13 kg gạo tại vùng đô thị và 8 kg gạo tại vùng nông thôn. Đối với gia đình nghèo, chỉ tiêu như sau: dưới 20 kg gạo tại vùng đô thị và 15kg tại vùng nông thôn.

Trong những năm 1997-2000, Việt-Nam nâng chỉ tiêu số lượng gạo lên và đồng thời ước tính số lợi tức tương đương bằng tiền Việt-Nam. Trong khoảng thời gian 2001-2005, Việt-Nam một lần nữa lại gia tăng tiêu chuẩn nghèo tính bằng tiền VN: 80,000 đồng VN cho mỗi người trong những gia đình nghèo ở nông thôn, miền núi và các hải đảo, 100,000 đồng VN ở vùng dồng bằng và 150,000 đồng VN tại vùng đô thị.

Vào tháng 10, 2005 Việt-Nam áp dụng chỉ tiêu mới về mức nghèo áp dụng trong giai đoạn 2005-2010: 211,00 đồng VN (134.4 Mỹ kim) hàng tháng cho mỗi người tại đô thị và 183,000 đồng VN (116.6 Mỹ kim) cho vùng nông thôn. Theo tiêu chuẩn mới này, tỉ lệ nghèo của Việt-Nam là 18.1% vào năm 2006.

Kết quả là từ ngày “cởi trói” kinh tế, tỉ lệ nghèo đói của Việt-Nam giảm đáng kể từ 79% vào năm 1986 xuống còn 20% vào năm 2003.

Vào tháng 10, 2005 Việt-Nam áp dụng chỉ tiêu mới về mức nghèo áp dụng trong giai đoạn 2005-2010: 211,00 đồng VN (134.4 Mỹ kim) hàng tháng cho mỗi người tại đô thị và 183,000 đồng VN (116.6 Mỹ kim) cho vùng nông thôn. Theo tiêu chuẩn mới này, tỉ lệ nghèo của Việt-Nam là 18.1% vào năm 2006.

Gần đây Chương Trình Phát Triển LHQ áp dụng chỉ số người nghèo (Human Poverty Index – HPI) cho những nước đang phát triển. Trong khi chỉ số phát triển con ngưới HDI chú trọng đến thành quả của các nước đạt được về ba phương diện lợi tức, sức khỏe và giáo dục, chỉ số người nghèo HPI đo lường sự thiếu thốn của con người về cả ba lãnh vực này.

HPI của Việt-Nam vào năm 2004 = 15.7 Việt-Nam được xếp vào hạng 33 trong số 102 nước đang phát triển.

Giải pháp

Việt Long: Giải pháp cho Việt Nam?

Nguyễn Quốc Khải: Nếu đo lường sức mạnh và tiến bộ kinh tế chỉ bằng GDP và mức tăng trưởng kinh tế, chúng ta bỏ ra ngoài yếu tố quan trọng là con người. Thước đo của sự tiến bộ chính là phẩm chất của đời sống con người về cả hai phương diện vật chất và tinh thần.

Tiềm năng phát triển con người của Việt-Nam còn rất rộng lớn nhưng chưa khai thác được. Lý do thứ nhất là hiệu năng quản trị tài nguyên và hành chánh còn thấp kém. Thứ hai chế độ độc đoán và tham nhũng hiện nay đã làm cản trở sự phát triển hệ thống y tế, xã hội và giáo dục.

Do đó cải tổ hành chánh, xã hội và chính trị là điều phải làm để có thể giúp Việt-Nam tiến xa hơn và thu hẹp khoảng cách thua kém những nước Á châu khác.