Kinh tế hai tốc độ

2005-02-15
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Nguyễn Xuân Nghĩa

Trong năm 2005, lãnh đạo Việt Nam phải chuẩn bị Đại hội đảng Cộng sản vào năm tới và nhiều vấn đề về đường lối chính sách sẽ được đặt ra. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu những chọn lựa về đường hướng kinh tế, qua phần trao đổi say đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong mục chuyên đề do Việt Long thực hiện hầu quý thính giả.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, theo đúng lịch trình thì trong năm 2006 tới đây, đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có Đại hội toàn đảng khóa thứ 10. Việc tổ chức đại hội được chuẩn bị cả năm trước; tức là suốt năm 2005 này, nhiều cuộc thảo luận và vận động về đường lối, chính sách và nhân sự sẽ được tiến hành. Trong phạm vi kinh tế, ông cho là những vấn đề gì đáng được nêu lên trong các cuộc thảo luận này?

Đáp: Để trả lời câu hỏi này, tôi xin được phân tách bối cảnh vấn đề trước khi đi vào nội dung của những chọn lựa được đặt ra cho giới lãnh đạo Việt Nam ngày nay. Năm 2005 là năm bản lề với nhiều yếu tố sẽ chi phối nhận thức và quyết định của những người trong cuộc.

Chính thức thì 2005 là năm kết thúc kế hoạch năm năm 2001-2005, thực tế thì đây là năm mà kinh tế Á châu sẽ có thay đổi, bất lợi nhiều hơn là thuận lợi. Năm 2005 có tiêu đích là Việt Nam cố gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và còn là cơ hội tổng kết về thành quả ba 30 năm cầm quyền tuyệt đối của đảng Cộng sản Việt Nam trên cả nước thống nhất, không chiến tranh.

Việc kiểm điểm tình hình và chọn lựa giải pháp cho tương lai vì vậy kéo dài cho đến giữa năm tới, nhưng bị chi phối bởi những gì sẽ thấy năm nay.

Hỏi: Nói về việc tổng kết 30 năm cầm quyền thì trúơc khi nói đên khía cạnh kinh tế, ông có nhận xét ra sao về thành quả thời gian cầm qưyền đó?

Đáp: Tôi thiển nghĩ là trong suốt Tháng Tư, ta sẽ có dịp làm công việc tổng kết ấy, ở đây tôi chỉ xin phát biểu ngắn gọn là 30 năm qua, ta đã chứng kiến 15 năm cao trào của xã hội chủ nghĩa sau khi lãnh đạo Việt Nam đòi “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và tiến tới cuộc khủng hoảng năm 1990.

Sau đó là thời thoái trào chậm rãi của chủ nghĩa, với cái gọi là “đổi mới kinh tế”, trong khi lãnh đạo chưa định hình được mô thức cai trị của một đảng, một nhà nước và một guồng máy chính quyền trong một xứ sở văn minh. Việc minh định vai trò này nên là một đề tài tìm hiểu và thảo luận.

Hỏi: Bây giờ nói về kinh tế, ông đánh giá thế nào về tình hình kinh tế hiện nay và về những vấn đề đang đặt ra cho giới lãnh đạo Việt Nam?

Đáp: Với tốc độ tăng trưởng ở khoảng 7-8% một năm như hiện nay, nếu có bảo rằng Việt Nam đang đi vào một chu kỳ khủng hoảng thì khó ai tin, nhất là sau khi đã chứng khiến sự nguy kịch của thời kỳ 1986-1989.

Nhưng, tương lai vốn không là một đường thẳng được vạch sẵn từ quá khứ nên người ta nên dự trù những đột biến bất ngờ. Năm 1995 mà nói là Đông Á sẽ bị khủng hoảng kinh tế vào giữa năm 1997 thì cũng khó tin.

Nhìn theo viễn ảnh dài thì tôi cho là Việt Nam cũng tương tự như nhà Mãn Thanh vào năm 1910, hoặc gần hơn, như Việt Nam dưới triều Tự Đức, trước khi sóng gió nổi lên từ bên ngoài và sẽ làm đảo lộn cái trật tự bấp bênh mà người trong cuộc cứ tưởng là vững chãi lắm.

Hỏi: Chúng tôi e rằng sự so sánh như ông vừa nói có phần hơi quá đáng chăng? Ông dựa vào yếu tố nào để so sánh như vậy?

Đáp: Bấp bênh hay bất trắc, vì những lý do sau đây. Thứ nhất, nguồn lợi tức tạo ra hình thức trù phú ngày nay không xuất phát từ trong nước, từ cái mà người ta hay gọi là “nội lực dân tộc”;

thứ hai, hố dị biệt giàu nghèo đang bị đào sâu giữa nhiều thành phần dân cư và địa phương; thứ ba, chủ quyền kinh tế đang tan loãng vì tuột dần khỏi tay người Việt và thứ tư, đảng cầm quyền đang mất dần lý do lãnh đạo vì sự đổi chác giữa lý tưởng với lý tài, khi tưởng rằng cứ ban phát quyền lợi kinh tế thì bảo vệ được quyền lực.

Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa khiến xã hội mất định hướng tinh thần và chính quyền không huy động được người dân, ngoài những khẩu hiệu hay tin tức trên truyền thông mà chẳng còn mấy ai tin. Nói ngắn gọn thì chính quyền ở trung ương đang mất dần khả năng điều động và nền kinh tế gồm hai khu vực sẽ phát triển với hai tốc độ sang hai hướng khác biệt. Rạn nứt và phân hoá vì vậy sẽ xảy ra.

Hỏi: Ông muốn nói đến hai khu vực phát triển theo hai hướng, tức huớng bên trong và hướng bên ngoài phải không?

Đáp: Thưa vâng mà sự thể có khi còn phức tạp hơn thế. Chúng ta có nền kinh tế hướng ngoại, sống nhờ xuất nhập khẩu và làm giàu trong các vùng tiếp cận với thế giới bên ngoài, trong khi đa số dân cư vẫn sinh sống theo nếp cũ và không thấy cuộc sống được cải thiện nếu so sánh với khu vực hướng ngoại ấy.

Thứ nhì, chúng ta có một nền kinh tế tư nhân rất năng động và có tiềm lực nhưng bị hạn chế và kiềm chế bởi hệ thống quốc doanh, của các ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống này ít hiệu năng nhưng được bảo vệ vì lý do chính sách, tức là chính trị, và tiếp tục là hang ổ của tham ô lãng phí.

Đầu tư nước ngoài được tập trung vào khu vực hướng ngoại, và ưu tiên trút vào doanh nghiệp nhà nước, nhưng sau nhiều năm lạc quan, giới đầu tư đã xét lại và rút dần, chủ yếu ngày nay chỉ còn giới đầu tư Á châu, cũng với sự lạc quan hồ hởi đã từng thấy tại Đông Á trước khi khủng hoảng bùng nổ năm 1987-1988. Tình trạng này không thể kéo dài được.

Hỏi: Trong hoàn cảnh đó, giới lãnh đạo Việt Nam có những giải pháp nào về kinh tế?

Đáp: Thuần lý mà nói về mặt kinh tế, tôi thiển nghĩ là nhà cầm quyền Việt Nam không có nhiều chọn lựa. Tôi xin tạm đơn cử ba bốn giải pháp có tính lý thuyết sau đây. Thứ nhất là đổi mới việc đổi mới, tức là cải cách triệt để hơn, như Đài Loan đã làm từ 1992 đến 94 và nhờ đó thoát cơn khủng hoảng Đông Á năm 97 và nay đang có một chế độ dân chủ cao nhất Á châu, với một xã hội thuộc loại công bằng nhất thế giới.

Giải pháp cải cách về cơ chế này cũng được Nam Hàn áp dụng sau vụ khủng hoảng, hoặc Thái Lan áp dụng kể từ năm 2000. Giải pháp này sẽ làm xã hội thay đổi tốt đẹp hơn nhưng trước mắt có thể làm đảng cầm quyền bị đào thải. Tôi không tin là giới lãnh đạo ngày nay lại yêu nước đến cỡ đó, nếu không, Việt Nam đã chả tụt hậu như ngày nay sau 30 năm thăng trầm vất vả.

Hỏi: Thế còn giải pháp thứ hai? Có cách gì cải cách mà lãnh đạo không sụp đổ chăng?

Đáp: Tôi xin tạm gọi đó là giải pháp Nhật Bản hay Giang Trạch Dân. Đó là nín thở đẩy mạnh đà tăng trưởng của khu vực hướng ngoại bằng mọi giá, bất kể tới lời lỗ, trong khi cải tổ hệ thống quốc doanh sao cho êm thắm mà chủ yếu vẫn là bảo vệ hiện trạng và dân chúng có bất mãn đi khiếu kiện thì tắt đèn đàn áp.

Tôi sở dĩ gọi đó là giải pháp Nhật Bản vì Nhật đã từng tập trung xây dựng khu vực xương sống của kinh tế quốc dân như vậy và gặp khủng hoảng năm 1990 cho đến nay vẫn chưa hồi phục. Đây là giải pháp trì hoãn cải tổ cơ cấu, với hậu quả sẽ còn tệ hại hơn cho xứ sở, nhưng trước mắt có thể cho lãnh đạo cầm quyền một cách cầm chừng và đảng viên cầm tiền thêm được một Đại hội nữa.

Hỏi: Không tiến thì thoái, có khi nào đảng Cộng sản Việt Nam đảo ngược đổi mới chăng?

Đáp: Giải pháp thứ ba này là điều bất khả. Thuần lý mà nói thì đảng và đảng viên có lợi lớn nhờ đổi mới nên sẽ không lui về đường lối gọi là cách mạng cũ, nghĩa là đóng cửa cải tạo lại cơ chế xã hội cho bình đẳng và nghèo khốn hơn, nhưng trong sự ổn định chính trị của đảng cầm quyền. Một sự thoái lui như vậy lập tức gây ra khủng hoảng và đảng sẽ sụp đổ.

Hỏi: Nếu vậy, ông cho là lãnh đạo Việt Nam còn một giải pháp nào khác chăng?

Đáp: Tôi nghĩ đến một giải pháp mà Hồ Cẩm Đào và lớp lãnh đạo mới của Trung Quốc đang cố áp dụng. Đó là chủ động gia tăng khả năng quản lý và kiểm soát của trung ương và kêu gọi giới đầu tư quốc tế trút tiền vào những khu vực kém phát triển nhất.

Giải pháp này khó thành công vì lệ thuộc vào những tính toán kinh doanh của thị trường bên ngoài trong khi vẫn đào sâu dị biệt giàu nghèo. Vả lại, nhiều thành phần trong đảng vẫn có thể nghĩ rằng tội gì mà nhường quyền lợi cho các vùng cao vùng sâu?

Loay hoay mãi thì các thành phần tạm gọi là tiến bộ nhất cũng chỉ dám nghĩ đến giải pháp này mà thôi, nội dung các hội nghị Trung ương đảng hay của Quốc hội có thể sẽ phản ánh cuộc tranh luận đó.

Hỏi: Trong giả thuyết gọi là có cải cách, nhưng chỉ cầm chừng để đảng vẫn cầm quyền, thì những gì có thể xảy ra trong tương lai?

Đáp: Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn sẽ hội nhập vào thế giới bên ngoài chứ không thể ngăn sông cấm chợ như thời cách mạng ngày trước. Mà càng hội nhập thì quyền lực của đảng và lý cớ của ý thức hệ càng mất giá trị. Và hội nhập tự phát như vậy thì Việt Nam vẫn tiếp tục thua kém các nước lân bang.

Đảng Cộng sản Việt Nam không thể tiếp tục can thiệp vào kinh tế bằng luật lệ nhiêu khê cồng kềnh, không thể hạn chế tự do mậu dịch và đầu tư để duy trì quyền lợi đảng viên, không muốn bảo vệ và phát huy quyền tư hữu và quyền tự do kinh doanh của tư nhân, và nhất là không thể nuôi dưỡng nạn tham nhũng tràn lan trong khu vực nhà nước như hiện tại.

Nếu không chủ động cải cách và chuẩn bị cho sự hội nhập tất yếu này, chính quyền sẽ không tránh khỏi khủng hoảng trong thời gian tới.

Hỏi: Ông hay nói đến chữ khủng hoảng, điều đó có thể xảy ra hay không?

Đáp: Tôi cho rằng điều đó sẽ xảy ra sớm hơn những dự liệu lạc quan của chính quyền. Đây là ta chưa nói đến những mâu thuẫn có thể xảy ra từ trong nội bộ khi có nạn “quân phân bất tề” vì chia chác quyền lợi không đều. Yếu tố có thể châm ngòi cho sự việc đó là những bất ổn kinh tế bùng nổ từ bên ngoài.

Năm 2004, giá cả thương phẩm đã lên tới mức kỷ lục mà kinh tế Đông Á vẫn tăng trưởng ngoạn mục chủ yếu là nhờ tiền rẻ khi Hoa Kỳ hạ lãi suất tới mức thấp nhất. Bây giờ lãi suất đã và sẽ còn tăng khiến Đông Á, kể cả Trung Quốc và Việt Nam, cũng phải nâng lãi suất và kinh tế Đông Á có thể bị suy trầm từ giữa năm nay trở đi, Trung Quốc có khi bị khủng hoảng.

Đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam có thể nhóm họp giữa năm tới, ngay giữa vụ khủng hoảng. Lúc đó, các vấn đề thật của một nền kinh tế hai khu vực và hai tốc độ sẽ phát tác và khiến cuộc tranh luận về đường lối của đảng sẽ trở thành lỗi thời. Và vô ích.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang