Nông dân đồng bằng sông Cửu Long vẫn gặp nhiều khó khăn


2007-09-18
Share

Thanh Quang, phóng viên đài RFA

Việt Nam là nước xuất cảng gạo nhiều thứ nhì trên thế giới, trong khi đó đời sống nông dân nói chung vẫn không khá giả là bao nhiêu, nhất là họ xem chừng như đang đối đầu với nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế thị trường như hiện nay. Thanh Quang tìm hiểu về những khó khăn đó của bà con nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và được Tiến sĩ Mai Thành Phụng, thuộc bộ phận thường trực phía Nam của Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia, cho biết.

TS Mai Thành Phụng: Hai năm rồi, bắt đầu hè-thu năm rồi (2006) rầy nâu bùng phát và ảnh hưởng lớn lao làm thiệt hại độ khoảng 800.000 tấn lúa. Năng suất của toàn vùng nói chung bị sụt giảm. Sự thất thu khiến đời sống của nhiều nông dân lâm vào tình cảnh khó khăn.

Thực trạng là chuyện đó có thật, là có rầy nâu tấn công, diện tích có lúc lên rất cao và diện tích bị nhiễm vàng lùn có lúc lên tói 76.000 hecta, như vậy là quá lớn. Và nông dân có giai đoạn đầu là rất lo. Nhưng sau đó Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã phối hợp giữa các thị trường, các nhà khoa học, đưa ra những giải pháp để giúp đỡ nông dân. Cho tới tháng 12 (2006) Bộ NG &PTNT đã in ra một tài liệu là Sổ Tay Hướng Dẫn Phòng Ngừa Rầy Nâu Truyền Bệnh Vàng Lùn Xoắn Lá cho bà con nông dân.

Hai triệu cuốn sổ tay đó được phát hết cho nông dân và tất cả các hệ thống khuyến nông tập huấn cho nông dân về những giải pháp đó thì rất mạnh. Và như vậy là sang vụ đông-xuân (2006-2007) tức vụ mùa chính, thì nông dân đã tích cực làm theo hướng dẫn của cuốn sổ này.

Và kết quả không ngờ là vụ đông-xuân đó và ngay cả vụ hè-thu 2007 mới vừa thu hoạch đợt một, nói chung đồng bằng sông Cửu Long lại tiếp tục trúng mùa. Nhưng nguy cơ bệnh vàng lùn và xoắn lá thì không phải là đã hết ngay; nó vẫn còn đe doạ tiêp vụ thu-đông là vụ mùa hiện nây đây. Và chúng tôi - Trung Tâm Khuyến Nông, cũng tiếp tục giới thiệu cho bà con những giải pháp đồng bộ và quyết liệt để bảo vệ được lúa. Lúa thu-đông đã gieo 300.000 hecta rồi.

Thanh Quang: Thế rồi còn vấn đề ngày càng khan hiếm nguồn nhân lực trong công việc thu hoạch lúa và hoa màu thì như thế nào? Khó khăn này của nông dân như thế nào, thưa Tiến Sĩ?

TS Mai Thành Phụng: Thực ra đây là một nhận định tổng quát. Số lượng điều tra chính xác thì không có con số quá chính xác, nhưng cái xu thế thì mọi người đều công nhận. Thứ nhất là khi vào nông thôn điều tra còn lại ai trồng lúa, thì những ông già bà lão và những người ít học, những người không có cơ hội vươn ra thành thị với nhà máy được, như vậy là vẫn còn một số thành phần những nguời phải nói là không phải là chuyên mà cũng không phải là giỏi trong ngành làm lúa được.

Số người năng động thì họ đi kiếm công việc khác, họ ra thành thị hoặc đi làm dịch vụ hoặc đi vô nhà máy công nghiệp, v.v... Thành thử số lao động đó đã dịch chuyển sang công nghiệp một số rồi. Sự thật là như vậy, nhưng dịch chuyển chỗ nào nhiều chỗ nào ít thì chúng tôi chưa có số liệu chính xác.

Việc mà nó thể hiện trực tiếp trên đồng ruộng là giá công cắt hồi xưa là tới mùa lúa thì công cắt rất là nhiều. Và họ đến họ hợp đồng. Nếu mình không hợp đồng chỗ này thì họ đễn chỗ khác. Gía cả công cắt thì không thay đổi, không có lên lắm. Nhưng bây giờ thì không được đâu. Bây giờ thì khi gieo lúa xong là phải đi kiếm người hợp đồng ký trước chứ nếu không thì khi lúa chín sẽ không có ai tới cắt cho mình.

Đó là trở ngại đó. Và nếu lúc đông ken, tức là lúc mà thu hoạch rộ lên và công cắt hiếm mà mình không có hợp đồng trước, bắt buộc phải thuê bất chợt, thì phải trả tiền mắc hơn. Và mắc đến chừng mực nào thì hiện nay công cắt có thể đến 2 triệu rưỡi đồng cho mỗi hecta. Hồi xưa mỗi mùa thu hoạch thì nông dân trả chừng một triệu tư, một triệu rưỡi thôi cho mỗi hecta. Bây giờ phải trả lên cao lắm.

Thanh Quang: Về giá nhiên liệu và phân bón, tức là chi phí đầu vào nói chung cho việc canh tác gia tăng thì sao ạ?

TS Mai Thành Phụng: Cái đó tương đối rõ. Theo đề tài nghiên cứu về vấn đề này thì thấy là trong vòng năm nay tuy có trồi lên trụt xuống, nhưng rốt cuộc lại dừng ở mức cao hơn chi phí hồi trước như xăng dầu và phân bón. Phân bón có khi xuống, phân Ure có khi lên tới 300.000 đồng, nhưng bây giờ thì sụt rồi còn 260.000 đồng. Như vậy là giá phân có tăng, xăng dầu có tăng, rồi nhân công có tăng, thuốc bảo vệ thực vật cũng tăng, tính bình quân khoảng 10% đến 20%.

Chuyện vật giá tăng như vậy chắc chắn ảnh hưởng tới giá thành, nhưng bù lại thì giá lúa vẫn được. Nghĩa là trước đó giá lúa xoay quanh hai ngàn rưỡi, hai ngàn sáu, giờ thì gia lúa lên hai ngàn chín, ba ngàn. Và những lúc hụt lúa thì người dân có thể bàn được ba ngàn mốt.

Thôi thì thuyền lên nước lên. Cái đó nông dân biết rồi. Giờ chỉ có cách là năng suất tiếp và sủ dụng đầu tư phân bón thuốc trừ sâu phải cho hợp lý. Đó là kế hoạch duy nhất chứ không có cách nào hết. Nhưng mà ít ra trên một hecta thì nông dân vẫn có mức lời so với trước, hoặc là tăng chứ không giảm.

Thanh Quang: Thưa Tiến Sĩ, tình hình dịch bệnh hiện giờ như là cúm gà, bệnh heo tai xanh, bệnh lỡ mồm long móng, những bệnh đó ảnh hưởng ra sao tới tình hình giá cả của gia cầm, gia súc do nông dân sản xuất?

TS Mai Thành Phụng: Ồ, cái đó ảnh hưởng quá lớn, sập tiệm luôn đó chớ. Hồi nó tung một cái tin là ăn bưởi bị ung thư làm cho nhà vườn chết ngắt. Rồi sầu riêng có hoá chất khiến một số nơi bán không được. Rồi thịt heo thì bây giờ có nhiều người từ chối ăn thịt. Những cái này ảnh hưởng trực tiếp và lớn lắm đến người nuôi trồng. Nhưng riêng về cây lúa thì không sao, vì nó không ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, nó không lây lan.

Cây lúa thì yên chí, còn mấy thứ kia thì không chừng chết hết. Nó ảnh hưởng rất mạnh và phải nói tới bây giờ thủ tướng nhiều khi còn quan tâm tới chỗ ông tung tin ăn bưởi ung thư đó thì lý do động cơ nào mà ông tung tin đó. Nếu mà do không hiểu biết thì xử lý khác, còn do phá rối kinh tế thì xử lý khác. Ông thấy là khó khăn lắm đó, nhạy cảm lắm. Thị trường bây giờ nhạy cảm lắm. Giống như cúm gia cầm có lúc hàng loạt nhiều nhà người ta không dám ăn gà.

Thanh Quang: Theo nhận xét của Tiến Sĩ thì trong bối cảnh mới khi Việt Nam đã gia nhâp tổ chức WTO thì có thể khiến cho nông dân gặp khó khăn gì không, tức là sức cạnh tranh về nông phẩm, về hàng thuỷ sản, v.v. từ bên ngoài?

TS Mai Thành Phụng: Về vấn đề này chúng tôi làm một diễn đàn lớn lắm ở tại Vĩnh Long có trục tiếp truyền hình vào ngày 29-4-2007. Để trả lời câu nông dân vào WTO thì được gì, mất gì, nông dân phải chuẩn bị gì, thì cái đáp án rất là rõ. Thứ nhất là nông dân hiện nay có 3 cái được, 3 cái mất.

Ba cái được là: được thị trưòng rộng mở, có khả năng sẽ được đầu tư nhiều hơn của những tập đoàn thế giới, nông dân nếu làm ăn tốt thì sẽ phát triển tốt hơn, có thể làm giàu được. Tuy nhiên, ba cái mất là không có sự bảo hộ nào hết về phía nhà nước đâu, chỉ có học hỏi nhờ nơi khuyến nông thôi, do đó nông dân phải tự mình liên kết lại, sản xuất hàng hoá có thể cạnh tranh được về mặt giá cả và chất lượng và an toàn.

Thành ra nông dân phải lo, phải tự chủ về mặt đó, và phải tự đi gõ cửa các nhà khoa học. Các doanh nghiệp phải tự đi kiếm đầu ra, tự đi kiếm các kỹ thuật phù hợp, tự lựa chọn phương án canh tác thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, lao động của nông hộ, v.v...

Như vậy trong bối cảnh mới nông dân nào năng động, nhạy cảm, biết nắm thông tin kinh tế kỹ thuật thị trường và biết tổ chức liên kết làm ăn, biết xâu nối lại giữa các nhà, và đặc biệt là đầu ra tức là nhắm sản xuất ra bán cho ai, như thế nào đó, thì nông dân đó mới trụ được. Còn nông dân nào mà ù ơ ví dầu thì không có phát triển làm giàu dễ dàng được trong hoàn cảnh mới.

Nói chung là trong diễn đàn đó chúng tôi cũng có trả lời nông dân, giao lưu với nông dân. Và nói tóm tắt lại là trong bối cảnh luật chơi chắc chắn Việt Nam mình không thể đứng ngoài cuộc chơi được, và đã vào trong cuộc chơi thì phải chấp nhận cạnh tranh vớí các nước trên thế giới, trong 150 nước thì mình là thành viên thứ 150. Về mọi mặt người nông dân phải vưon lên làm chủ và biết tự động gõ cửa các nơi và nắm được thông tin kỹ thuật kinh tế thị trường WTO qua sách báo, internet, qua hiệp hội, qua người thân gì gì đó, v.v. để làm sao chọn cho mình phương án sản xuất khả thi nhất, có hiệu quả nhất và bền vững nhất. Đại ý nói tổng thể là như vậy. Chứ còn bây giờ mà nông dân làm cái gì mà bấp bênh thì rất nguy hiểm cho mình. Đó là câu trả lời tổng thể là như vậy.

Thanh Quang: Xin cảm ơn TS Mai Thành Phụng vừa trình bày một số nét liên quan tới những khó khăn mà nông vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gặp phải trong bối cảnh hiện nay.

Ý kiến (0)

Xem tất cả ý kiến.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Xem toàn trang