Quá trình cải tổ Luật pháp tại Việt Nam (III)

2005-07-18
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Trần Thanh Hiệp

Trước những đòi hỏi cấp bách của tình thế, để chống nạn tham nhũng đang không ngừng gia tăng đồng thời cũng để bổ túc cho hồ sơ của Việt Nam xã hội chủ nghĩa xin gia nhập Tổ chức Mậu dịch Quốc tế vào cuối năm nay, vấn đề cải tổ luật pháp đang là một vấn đề thời sự ở Hà Nội.

BuildingKids200.jpg
Khu chung cư mới xây ở Phú Mỹ Hung, Sài Gòn. AFP PHOTO/HOANG DINH Nam

Phái viên Việt Hùng của Đài Á Châu Tự do, vào đầu tháng này, đã hai lần phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc, cựu Bộ trưởng Tư pháp, hiện là đại biểu quốc hội đương chức, về hoạt động của quốc hội nhằm đáp ứng nhu cầu cải tổ luật pháp cho Việt Nam.

Tiếp tục tìm hiểu thêm về vấn đề này, hôm nay, BTV Nguyễn An mạn đàm với Luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền ở Paris.

Luật sư Hiệp là người từng nhiều lần nêu vấn đề cải tổ luật pháp Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế cũng như trên báo chí của người Việt ở hải ngoại. Cũng xin được thưa rằng những ý kiến của luật sư Trần Thanh Hiệp không nhất thiết là quan điểm của Ban Việt ngữ đài Á châu tự do.

Trong hai kỳ trước, luật sư Hiệp đã phân tích ý nghĩa của từ “cải tổ” hiểu như một thuật ngữ luật học và quá trình cải tổ Luật pháp tại Việt Nam mà ông coi là một tiến trình liên tục và nhất quán từ năm 1945 đến nay. Mời quý thính giả theo dõi tiếp phần ba và cũng là phần cuối cuộc mạn đàm

Những thành quả

Nguyễn An: Ông đánh giá ra sao về những thành quả Việt Nam đã đạt được trong lãnh vực cải tổ luật pháp?

Trần Thanh Hiệp: Đánh giá cải tổ luật pháp cộng sản ở Việt Nam được tới mức khách quan là một điều cực khó. Vì luật pháp này đã bị chinh trị hoá hoàn toàn. Thí dụ khi nói ở Việt Nam Nhà nước dân chủ cộng hoà nhưng phải làm nhiệm vụ chuyên chính công nông rồi chuyên chính công nông lại được trao cho nhiệm vụ chuyên chính vô sản là nói theo lý luận chính trị của Lênin “chuyên chính vô sản là dân chủ vô sản”.

Trong luật học, dân chủ là dân chủ, chuyên chế là chuyên chế, không thể có định nghĩa dân chủ là chuyên chế được. Cho nên đã làm ra Hiến pháp dân chủ cộng hoà 1946 thì phải thiết lập dân chủ thực sự chứ không phải dùng bản văn này để biến nó thành dân chủ nhân dân rồi thành chuyên chính công nông và sau nữa thành chuyên chính vô sản.

Trong luật học, dân chủ là dân chủ, chuyên chế là chuyên chế, không thể có định nghĩa dân chủ là chuyên chế được. Cho nên đã làm ra Hiến pháp dân chủ cộng hoà 1946 thì phải thiết lập dân chủ thực sự chứ không phải dùng bản văn này để biến nó thành dân chủ nhân dân rồi thành chuyên chính công nông và sau nữa thành chuyên chính vô sản.

Bởi vậy, để cho được khách quan, cần tránh ngay từ lúc khởi đầu không trộn lẫn luật pháp với chính trị. Lại nữa, cũng phải định rõ muốn hiểu luật pháp theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, là một kỹ thuật thuần tuý điều lý xã hội hay còn là một nhận thức văn hoá của con người nhằm đem lại và bảo đảm công bằng, công lý cho cuộc sống chung?

Đã chọn góc độ luật học để kiểm điểm tiến trình cải tổ luật pháp ở Việt Nam thì đương nhiên khi đánh giá nó tôi cũng sẽ lại đưa ra một cái nhìn luật học, từ nghĩa hẹp đến nghĩa rộng, từ mặt lượng đến mặt phẩm.

Lượng và phẩm?

Nguyễn An: Trước khi phân tích sâu hơn, xin ông xác định rõ thế nào là mặt lượng và thế nào là mặt phẩm.

Trần Thanh Hiệp: Lượng là nói về mặt hình thức, đến số lượng của tất cả các văn bản pháp lý mà không xét đến nội dung của văn bản này. Còn phẩm là nói đến nội dung của các quy phạm pháp lý ở trong các văn bản mà không cần xét tới số lượng.

Nguyễn An: Vậy xin nói về mặt lượng trước.

Trần Thanh Hiệp: Nói lượng là nói về mặt thực định của luật pháp. Về mặt này thì phải công nhận rằng trải qua hơn nửa thế kỷ cầm quyền, Đảng cộng sản đã sản xuất ra được một số lượng rất quan trọng văn bản pháp lý đủ mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, ngoại giao v.v…bao gồm một số không ít quy phạm, thể hiện thành một hệ thống quy tắc pháp lý, điển chế hóa cũng có, chuyên ngành hoá cũng có, để áp dụng cả ở trung ương, lẫn ở địa phương.

Nhờ có hệ thống quy tắc này mà bộ máy Nhà nước cộng sản đã có cơ chế để hoạt động. Nhưng bộ máy này hoạt động ra sao về các mặt công quyền, dân quyền, nhân quyền? Muốn trả lời, không thể không xét tới phẩm chất của luật pháp thực định.

Về mặt này thì hệ thống luật pháp cộng sản phải coi như rất thành công trong vai trò áp đặt nền thống trị của bộ máy cầm quyền độc tài đảng trị và kìm giữ đại khối nhân dân trên nửa thế kỷ trong tình trạng bị tước đoạt hết nhân quyền, dân quyền. Trước dư luận, điều này bây giờ đã quá hiển nhiên. Đó là lý do vì sao người cần đầu chính phủ ở Hà Nội trong chuyến viếng thăm nước Mỹ mới đây đã phải cam kết cải thiện tình trạng ấy. Tôi xin không đi vào chi tiết, chỉ tóm tắt việc tôi đánh giá tiến trình cải tổ luật pháp ở Việt Nam qua bốn nhận định sau đây:

Mong quý thính giả đóng góp thêm ý kiến về vấn đề này. Xin gửi E-mail đến địa chỉ Vietnamese@www.rfa.org

Một, trong 60 năm cầm quyền, Đảng cộng sản đã thực hiện nhiều đợt cải tổ luật pháp để thiết lập, củng cố, duy trì vô hạn định một trật tự chính trị chuyên chế độc đảng, hệ thống hoá luật pháp thành một công cụ cai trị bằng bạo lực. Dưới chế độ chính trị đương quyền ở Việt Nam, bàn về luật pháp mà không quy chiếu vào chủ nghĩa Mác-Lênin thì không thể nào nắm bắt được thực chất của nó vì nó không gì khác hơn là phó sản chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Hai, Đông Âu và Liên Xô cũ bị sụp đổ chỉ vì chủ nghĩa Mác-Lênin không đáp ứng được nhu cầu tiến bộ của con người, của xã hội, của thời đại, trong phạm vi quốc nội cũng như trên trường quốc tế. Theo gót Đảng cộng sản Trung Quốc, Đảng cộng sản Việt Nam tuy đã và đang tự biến chất nhưng vẫn mượn danh nghĩa Mác Lê để biện minh cho việc tiếp tục duy trì sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và thống nhất, nghĩa là trong ý đồ toàn trị, của một Đảng cộng sản phản tiến hóa.

Ba, phải cải tổ luật pháp không phải ở ngọn mà ở gốc tức là trung tâm quyền lực cua quốc gia, hiện đang do Đảng cộng sản độc chiếm. Những cải tổ luật pháp do chính quyền cộng sản đã thực hiện cho đến nay chỉ nhằm giúp cho Đảng cộng sản lẩn tránh việc cải tổ tận gốc này nghĩa là trao trả chủ quyền quốc gia lại cho toàn dân, để dân được thực sự làm chủ bằng cách hành sử quyền tự quyết của nhân dân, tự mình lựa chọn lấy chế độ thích hợp với nguyện vọng cua mình.

Nói nhân dân làm chủ tập thể là nói bằng ngôn ngữ chính trị, phải nói quyền tự quyết của nhân dân thì mới thể hiện quyền làm chủ tập tập thể này bằng ngôn ngữ luật học. Do đó, phải cải tổ lại sự cải tổ sai trái của Đảng cộng sản hiện đang được thực hiện, như ông chủ tịch Uy ban lý luận trung ương Hồng Hà vừa mới tái xác định.

Bốn, cải tổ lại sự cải tổ như thế sẽ sản xuất ra một thư luật pháp mới, luật pháp dân chủ để thay thế thứ luật pháp cộng sản hiện hành, con đẻ của chủ nghĩa Mác-Lênin. Và để cải tổ lại sự cải tổ, chẳng những phải “nội luật hoá” những quy phạm pháp lý quốc tế Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã tham gia, như quốc hội ở Hà Nội vừa nêu lên, nhân dịp tạo điều kiện mới cho đơn của Việt Nam xin gia nhập WTO, mà còn phải làm bà đỡ cho toàn dân khai sinh ra những quy phạm mới thay vì chỉ được nhắm mắt, cúi đầu hợp thức hoá đường lối cai trị độc đoán của Đảng ở trên ngôi chí tôn.

Để kết thúc, tôi xin phác thảo một hình ảnh của luật pháp mới, đó là tô đậm nét 2 chữ dân chủ trong 12 chữ vàng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” đã được ghi nơi điều 3 của Hiến pháp năm 1992 đã đại tu năm 2001. Tô đậm nét để đổi lại trật tự tư duy chính trị. Không phải tự nhiên mà dân giàu nước mạnh. Trước hết, có dân chủ thì xã hội mới công bằng để trở thành văn minh và có văn minh thì dân mới giàu, nước mới mạnh. Xã hội hiện nay là xã hội của đặc quyền, đặc lợi, đầy rẫy bất công. Vì thế phải cải tổ lại luật pháp.

Những cải tổ

Nguyễn An: Những cải tổ đã thực hiện và những cải tổ sẽ thực hiện trong lãnh vực luật pháp đã đủ để VIỆT NAM trở thành một quốc gia pháp trị chưa?

Theo tôi, những cải tổ đã thực hiện chưa đủ để Việt Nam trở thành một quốc gia pháp trị giống như Rule of law của Anh, Reechstaat của Đức, Due process of law của Mỹ va État de droit của Pháp. Nhưng Hà Nội coi là đã đủ rồi và tự nhận là một quốc gia pháp quyền.

Trần Thanh Hiệp: Theo tôi, những cải tổ đã thực hiện chưa đủ để Việt Nam trở thành một quốc gia pháp trị giống như Rule of law của Anh, Reechstaat của Đức, Due process of law của Mỹ va État de droit của Pháp. Nhưng Hà Nội coi là đã đủ rồi và tự nhận là một quốc gia pháp quyền.

Chữ pháp quyền không phải là một khái niệm luật học phổ biến. Nó là một đặc sản cộng sản Việt Nam được sáng chế ra vào hồi đầu thập niên 80, thời kỳ cực thịnh của chuyên chính vô sản. Tự bản thân, pháp quyền là một cái bình rỗng để đựng một thứ rượu giả là luật pháp cộng sản chỉ có giá trị tuyệt đối với dân chúng mà thôi.

Đối với Đảng thì nó là một công cụ cai trị được tuỳ tiện sáng chế, áp dụng hay không áp dụng, giữ hay bỏ, là do Đảng. Còn về những cải tổ sẽ thực hiện thì nên chờ thời gian trả lời. Nếu dựa vào cái đà cải tổ ở ngoại vi hiện nay - không được nôn nóng như ông Hồng Hà đã chỉ thị - thì tôi không thiếu lý do để sợ rằng nước Việt Nam pháp trị vẫn chỉ là một viễn ảnh thấp thoáng nơi phía chân trời ước vọng.

Nguyễn An: Xin cảm ơn luật sư Trần Thanh Hiệp.

Vừa rồi là phần thứ ba và cũng là phần cuối cuộc mạn đàm giữa BTV Nguyễn An của đài chúng tôi với luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền ở Paris.

Mong quý thính giả đóng góp thêm ý kiến về vấn đề này. Xin gửi E-mail đến địa chỉ vietnamese@www.rfa.org hoặc gọi điện thoại đến số 1 202 530 7775 và để lại lời nhắn cùng số điện thoại, chúng tôi sẽ liên lạc lại.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang