Tìm đâu ra một đầu máy kinh tế?

Lời giới thiệu: Trong năm 2001, kinh tế thế giới bị đình đọng gần như cùng lúc. Đó là hiện tượng suy trầm cùng hướng. Liệu trong năm nay, có nền kinh tế nào trên thế giới khả dĩ nền kinh tế toàn cầu ra khỏi nạn trì trệ nay hay không? Diễn đàn Kinh tế xin giới thiệu bài phân tách của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về hy vọng này...Kinh tế thế giới hiện đang bị nạn suy trầm đồng loạt, từ Nhật Bản rồi Hoa Kỳ, Âu Châu lan sang các vùng khác. Đảo ngược vấn đề, trong buổi đầu năm người ta có thể tự hỏi là liệu kinh tế thế giới có hy vọng phục hồi nhờ một đầu máy kinh tế nào đó chăng, và liệu kinh tế Hoa Kỳ có đảm nhiệm được vai trò đó không? Trước khi tìm giải đáp cho câu hỏi, chúng ta cần biết vì sao thế giới lại gặp hiện tượng suy trầm đồng loạt này. Bốn yếu tố có thể giải thích cho tình trạng lên xuống cùng chiều hướng như vậy.Thứ nhất là các quốc gia ngày nay buôn bán với nhau nhiều hơn. Trong hai lần bị suy trầm đồng loạt trước đây, vào giữa thập niên 70 và đầu thập nien 80, số ngoại thương toàn cầu chỉ bằng 17 hay 19% của tổng sản phẩm nội địa GDP. Ngày nay, tổng số hàng hóa và dịch vụ các nước trao đổi với nhau lên tới khoảng 24% tổng sản phẩm GDP của thế giới. Khi mua bán trao đổi với nhau nhiều như vậy, một quốc gia nào đó mà bị sút giảm sản xuất tất sẽ đầu tư và nhập cảng ít hơn, nên các nước giao thương càng nhiều với xứ này thời càng dễ bị ảnh hưởng. Thứ hai, yếu tố thời cơ của thăng trầm về ngoại thương cũng là điều giải thích hiện tương lây lan. Như trong năm 2000 chẳng hạn, ngạch số xuất nhập cảng tăng trung bình hơn 12% trên toàn cầu, vậy mà qua năm 2001, đà tăng trưởng đó còn chưa đầy 1%. Trong lịch sử, chưa khi nào thấy một sự sút giảm nặng nề như vậy.Yếu tố thứ ba của hiện tượng suy trầm cùng hướng là trong khối lượng hàng hóa trao đổi với nhau, các mặt hàng liên hệ đến công nghệ tin học, tức là Information Technology, chiếm một tỷ trọng rất lớn kể từ giữa thập niên 90. Số hàng hóa loại này tăng gần 50% trong khối lượng mậu dịch toàn cầu từ năm 1996, rồi lại sụt thật mạnh trong năm 2000 trở đi, nên gây hiệu ứng bất lợi cho các nước khác, đặc biệt là các xứ Đông Á. Và yếu tố sau cùng là kinh tế thế giới hiện lệ thuộc khá nhiều vào kinh tế Hoa Kỳ. Dù sức sản lượng kinh tế Mỹ chỉ bằng 20% sản lượng toàn cầu, nếu tính theo phương pháp tỷ giá hối đoái PPP, là phương pháp thực tiễn và chuẩn xác nhất, thì Hoa Kỳ vẫn đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu một tỷ lệ cao gấp đôi. Nói cho dễ hiểu là nếu kinh tế thế giới tăng trưởng được 4% một năm, thì kinh tế Mỹ đóng góp khoảng 1,6%. Kết hợp bốn yếu tố này, ta hiểu vì sao các nước cùng bị suy trầm và không có một khối kinh tế nào khả dĩ đóng vai trò đầu máy lôi kéo các nền kinh tế khác ra khỏi sự đình trệ này.Hoa Kỳ có tốc độ tăng trưởng rất mạnh kể từ 1991, và đặc biệt từ 1996 trở đi, đã thành đầu máy hữu hiệu nhất cho kinh tế thế giới nhờ đà phát triển của các ngành công nghệ tin học IT. Thế rồi, đà phát triển quá mạnh đó bị khựng, chủ yếu vì đầu tư quá nhu cầu, nên kinh tế Hoa Kỳ kéo các nền kinh tế khác xuống dốc. Những quốc gia từng sản xuất mặt hàng thuộc loại công nghệ tin học, như Nam Hàn, Đài Loan hay Singapore bị ảnh hưởng tai hại nhất vì sự sa sút đó tại Hoa Kỳ. Kinh tế Đông Á vốn có Nhật Bản bị khủng hoảng kinh niên từ 10 năm trước, khi gặp phải sự sụp đổ của ngành IT tại Mỹ thì bị suy trầm theo. Sự suy sụp đó thu hẹp số cầu hàng hóa tại Á Châu làm Âu Châu mất thị trường và bị nạn. Đồng thời, vì Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Mexico lại ở trong Khối Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, gọi là NAFTA, suy trầm tại Mỹ làm hai lân bang kia bị lây. Kinh tế Nhật vốn dĩ như con bệnh kinh niên, gặp vào hoàn cảnh ngặt nghèo của các lân bang Đông Á lẫn Âu Châu và Bắc Mỹ liền trôi vào đợt suy trầm thứ tư trong vòng có 10 năm. Không còn ba đầu máy mạnh nhất là Mỹ, Nhật và Âu Châu, kinh tế toàn cầu mới kéo nhau trôi xuống dốc. Ta có hiện tượng gọi là vòng xoáy đi xuống, tức là một vòng luẩn quẩn tự tác động với nhau làm tình hình ngày càng khó khăn hơn cho ngần ấy lục địa. Một trong những yếu tố phục hồi là phải có một nền kinh tế đủ mạnh có một thị trường nội địa đủ lớn để tạo ra một số cầu khả dĩ thay thế được số cầu lớn lao của kinh tế Mỹ. Trong hoàn cảnh hiện nay, người ta hy vọng trước hết vào 15 nước của Liên hiệp Âu Châu. Khổ nỗi, kinh tế Âu Châu hiện có một số đặc tính khá tiêu cực. Các nước đều có phản ứng cải tổ chậm, lại cần phối hợp chách sách thuế khóa với nhau để bảo đảm ổn định giá cả cho đồng Euro mới phát hành, nên Âu châu có ít hy vọng khởi phát để làm đầu máy cấp cứu cho kinh tế thế giới. Một đặc tính thứ hai là đa số các nước Âu Châu vẫn quá sức quan tâm tới các vấn đề lao động và xã hội nên có chánh sách nhân dụng quá gò bó, với hậu quả là làm thất nghiệp không giảm mà còn tăng, tiêu thụ của Âu Châu chưa thể tăng mạnh để lục địa này là đầu máy tăng trưởng. Sau cùng, Âu Châu còn bị một vấn đề là hệ thống kinh doanh quá bảo thủ, cứng ngắc nên không có sức đầu tư cao khả dĩ đảm nhiệm vai trò cấp cứu.Trở về trường hợp Nhật Bản, với tỷ lệ thất nghiệp cao nhất kể từ hơn nửa thế kỷ và hệ thống ngân hàng lún sâu trong nợ, có thể sụp đổ rất nhanh, Nhật có rất ít hy vọng cứu nguy kinh tế thế giới. Không những vậy, việc đồng Yen Nhật sụt giá liên tục còn có tác dụng tai hại khác. Tiền Nhật mất giá làm hàng Nhật rẻ hơn khi bán ra ngoài, nhưng chẳng giúp gì cho giới tiêu thụ nội địa. Hiện tượng sụt giá đó còn làm các nước khác bị thêm khó khăn về cạnh tranh và nhất là chẳng đẩy mạnh số cầu nội địa. Giới tiêu thụ Nhật Bản còn bị thiệt hại vì vụ sụt giá đồng Yen làm hàng hóa trở thành đắt đỏ hơn. Ngoài Nhật và Âu Châu, thế giới còn khối kinh tế nào khác chăng? Người ta có thể nghĩ đến các nước đang phát triển.Các nước đang phát triển, trên rất nhiều lục địa, đều còn bị cơn hậu chấn của vụ khủng hoảng Đông Á thời 97-98. Đáng lẽ ngay sau vụ khủng hoảng các nước này, tại cả Á Châu lẫn Nam Mỹ, đã phải đẩy mạnh cải cách cơ chế cho lành mạnh hơn, thì nhờ kinh tế Mỹ giúp hồi phục rất sớm vào năm 1999, họ đã đình hoãn việc cải cách và cũng chưa nhìn ra nhược điểm cốt tủy là đi theo sách lược lấy xuất cảng làm đầu máy tăng trưởng. Khi khối lượng mậu dịch thế giới chỉ tăng chừng 1% trong các năm 2001 và 2002 và lạc quan lắm thì tăng được 6% vào năm 2003, các nước này chưa thể ra khỏi nạn suy trầm được. Số cầu của các xứ này đã chẳng thể tăng mà có khi cón sụt. Nếu xét kỹ, một vài nước Đông Á đã bắt đầu đụng tới đáy sâu nhất, như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Malayxia và Singapore, nhưng chưa thể tăng trưởng mạnh trong một hai năm sắp tới. Trong khung cảnh đó, trường hợp Trung Quốc là một biệt lệ rất đáng chú ý. Là một nước đông dân có hướng về xuất cảng làm sức tăng trưởng, Trung Quốc lại lệ thuộc vào xuất cảng. Xứ này lại chưa lên tới trình độ phát triển của các lân bang Đông Á, để đầu tư mạnh vào ngành IT, Hoa lục ít bị ảnh hưởng của vụ suy sụp IT tại Mỹ. Nhưng, vì các xứ khác đều suy trầm nên số xuất cảng của Hoa Lục có bị ảnh hưởng. Trong hai năm qua, chính quyền Trung Quốc đã chủ động tiến hành chánh sách tăng chi cho nhiều dự án hạ tầng cơ sở để cải thiện cuộc sống dân chúng trong nội địa. Tuy nhiên, vì mức sống dân cư còn quá thấp và sản lượng kinh tế chỉ bằng 3% tổng sản phẩm GDP của thế giới, thị trường hơn một tỷ dân Hoa Lục chưa thể đảm nhiệm được vai trò cứu nguy kinh tế thế giới.Như vậy, tính đi tính lại thì người ta chỉ còn nhìn thấy kinh tế Hoa Kỳ. Một số người dự đoán là kinh tế Hoa Kỳ có thể phục hồi vào cuối năm nay, sau nhiều tháng còn bị thăng trầm lên xuống như để lấy đà. Nhưng, dù có hồi phục thì kinh tế xứ này cũng khó đạt được tốc độ rất cao của mấy năm trước. Vì tiêu thụ đóng góp tới hai phần ba của sản lượng toàn quốc nên một trong những động cơ của bộ máy hồi phục chính là sức tiêu thụ của người dân. Cho nên yếu tố cần theo dõi ở đây chính là tââm lý giới tiêu thụ Mỹ, và hiểu như vậy, ta mới thấy ảnh hưởng quan trọng của vụ khủng bố hồi tháng Chín năm ngoái, và của cuộc chiến chống khủng bố mà Hoa Kỳ đang tiến hành.