Một bài học từ thảm nạn Chernobyl

2004-11-22
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 năm 1986, một tai nạn thụôc lọai bi thảm nhất thế giới đã xảy ra ở nhà máy điện dân sự hạch nhân Chernobyl ở Liên Sô cũ hay Ukraine hiện tại. Nhà máy điện hạch nhân nầy ở về phía Bắc cách thành phố Kiev 80 dậm. Nhà máy có 4 lò phản ứng.

By line: Mai Thanh Truyết

Đúng 1 giờ 23 phút sáng, các phản ứng phát nhiệt dây chuyền hoàn toàn không còn kiểm soát được, nhiều tiếng nổ lớn cùng những cột lửa thoát ra từ cửa của lò hạch nhân số 4. Thảm kịch ấy ra sao, có thể tránh được không, và nếu được thì bằng cách nào, là chủ đề kỳ này của tạp chí KHMT.

Hỏi: Chào tiến sĩ Mai Thanh Truyết, trước hết, ông cho biết khái quát về hậu quả của tai nạn trên.

Mai Thanh Truyết: Trước hết, có 30 nạn nhân bị chết ngay tức khắc. Hàng ngàn nhân viện cấp cứu tự nguyện cũng bị chết tiếp theo sau đó. Sau nầy con số đã được chính quyền kiểm chứng lại và ước tính từ 7.000 đến 10.000 người bị chết. Chất phóng xạ tỏa ra, bao phủ một vùng trên 20 dậm đường kính và 135.000 người dân phải di chuyển ngay sau đó.

Mức phóng xạ đã được ước tính tương đương với 200 quả bom nguyên tử đổ xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki vào thời đệ nhị thế chiến. Phóng xạ không những ảnh hưởng ở vùng xảy ra tai nạn mà còn lan rộng sang Belarus, Nga Sô, Ba Lan, Thụy Điển, Đức Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác nữa.

Hỏi: Như vậy là vào thời điểm đó, đã có đến 200 cơn ác mộng cùng xẩy ra một lần vì ngừơi ta vẫn ví mỗi trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagazaki là một cơn ác mộng. Thế nguyên nhân tạo ra tai nạn ở lò phản ứng như thế nào?

Đáp: Theo lịch trình, lò phản ứng số 4 "phải" bị ngưng hoạt động vào ngày 25/4, nghĩa là ngày xảy ra tai nạn, để bảo trì và kiểm soát lại hệ thống an toàn. Trên nguyên tắc , khi bắt đầu thử nghiệm, thì tất cả hệ thống điện phải được đình chỉ, trừ nguồn điện dự trù cho việc vận hành hệ thống an toàn trong điều kiện khẩn cấp. Nhưng khi lò phản ứng hoạt động còn khoảng 50%, hệ thống điện vì một lý do gì đó vẫn còn trên mạng lưới của nhà máy. Từ đó nhiệt độ của lò phản ứng tăng nhanh bất thường, cũng như hệ thống làm nguội hoàn toàn ngưng hoạt động.

Dưới áp lực đó, các "ống nguyên tử" bắt đầu bị bể ra và phóng xạ thoát ra ngoài môi trường chung quanh.

Theo một tài liệu "bí mật" trong văn khố Nga Sô vừa được giải mã gần đây, thì tai nạn ở Chernobyl đã được những người có trách nhiệm tiên liệu trước qua những khuyết điểm trong việc xây dựng các lò phản ứng ở đây. Và nguyên nhân quan trọng nhất là "sự thiếu vắng của văn hóa an toàn"(lack of a safety culture), nghĩa là lãnh đạo đã tỏ rõ nguy cơ tai nạn sẽ xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng vì dưới danh nghĩa tập thể, không ai xem đây là điểm cần phải cải đổi để làm tăng mức an toàn trong vận hành.

Hỏi: Còn nguyên nhân nào khác không thưa Tiến sĩ?

Đáp: Thứ đến là nguyên nhân về kỹ thuật, các lò phản ứng tại đây không có hệ thống kiểm soát hay chê ngự phản ứng phát nhiệt, cũng như hệ thống làm nguội bằng nước thay vì bằng hơi nước (Đây là loại lò phản ứng hạch nhân thuộc thế hệ I, nghĩa là theo kỹ thuật từ những năm 1950. Do đó, một sự tăng nhiệt độ bất thường sẽ làm tăng thêm lượng hơi nước đã hấp thụ sẳn trung hòa tử, do đó áp suất sẽ tăng dần cho đến mức độ làm bể nấp lò phản ứng). Chỉ trong khoảng thời gian 3- 4 giây, hơi nước đã mang theo độ 70% chất phóng xạ vào môi trường ngay sau đó.

Nguyên nhân thứ ba là sự vi phạm trầm trọng các thủ tục thử nghiệm về an toàn do nhân viện kỹ thuật phạm phải. Đó là trong quy trình an toàn vận hành, cần phải thử nghiệm các ống phản ứng trong lò. Lần sau cùng nầy, các nhân viện chỉ thử nghiệm 8 ống phản ứng thay vì 30 ống trong lò. Thêm nữa, hệ thống làm nguội khi xảy ra tai nạn không hoạt động.

Và nguyên nhân sau cùng là tại nhà máy không có hệ thống liên lạc hữu hiệu giữa các bộ phận chung quanh nhà máy, do đó nhân viên làm việc ở các lò khác không được thông báo kịp thời cho nên con số nạn nhân rất cao.

Hỏi: Những người sống chung quanh nhà máy bị ảnh hưởng lên sức khỏe và tâm lý như thế nào thưa Tiến sĩ?

Đáp: Về sức khỏe: Từ năm 1981 đến 1985, năm năm trước khi xảy ra tai nạn, trẻ em ở Ukraine dưới 15 tuổi trung bình bị ung thư tuyến giáp trạng là 4 - 6/1 triệu trẻ em . Từ năm 1986 đến 1997, số nạn nhân ung thư tăng lên 45/ 1 triệu, trong đó 64% bệnh nhân sống ở vùng bị nhiễm phóng xạ như Kiev, Chernigov, Zhitomir, Cherkassy, và Rovne.

Về ảnh hưởng tâm lý: Cho đến hiện nay, vẫn còn nhiều chỉ dấu ám ảnh và không thể xóa bỏ trong tâm thức của đa số người dân sống chung quanh Chernobyl. Đó là: sự lo sợ; sự trầm cảm; sự không còn tin tưởng vào tương lai trước mắt; và sau hết là hiện tượng rối loạn thần kinh.

Một trong những nguyên do làm cho các ảnh hưởng trên trở nên trầm trọng là vì chính quyền không có biện pháp giải thích, hướng dẫn, cùng trấn an dân chúng sau khi xảy ra tai nạn. Hơn nữa, sự hoảng hốt, và sự bưng bít những thông tin bất lợi của tai nạn, nghĩa là trốn tránh sự thật của lãnh đạo Liên Sô (thời còn dưới chế độ Cộng sản) làm cho dân chúng càng nghi ngờ và không còn ai tin tưởng những gì nhà cấm quyền thống báo ra. Đây cũng là một bài học lớn cho những quốc gia còn hạn chế thông tin trong dân chúng.

Hỏi: Còn ảnh hưởng lên xã hội, chính trị và kinh tế như thế nào?

Đáp: Ngay sau tai nạn, lãnh đạo Liên Sô đã kiểm soát mọi biện pháp giới hạn các hoạt động kỹ nghệ và nông nghiệp trong những vùng có nguy cơ bị nhiễm phóng xạ, nhất là các kỹ nghệ phục vụ cho xuất cảng. Điều nầy làm cho lợi tức của người dân bị giảm theo, kéo theo lợi tức của địa phương. Từ đó, mức đầu tư cũng giảm do tâm lý không an toàn của những nhà đầu tư nội địa cũng như ngoại quốc.

Thêm nữa, sự di dời dân chúng trong vùng đã làm xáo trộn mọi hoạt động trong vùng. Ngay khi xảy ra tai nạn có 116 ngàn người phải di dời. Trong khoảng thời gian từ 1990 đến 1995 chính quyền lại phải dời cư thêm 210 ngàn người nữa. Điều nầy đưa dến việc xây dựng thêm một thành phố mới là Slavitich cho cư dân và nhân viên nhà máy Chernobyl. Chi phí cho việc di dời lên đến 26 tỷ Mỹ kim. Vì nhà máy đã bị đóng cửa vỉnh viễn cho nên nhu cầu điện năng để sản xuất và sinh hoạt trong dân chúng bị hạn chế trầm trọng.

Về xã hội, thì mức sinh sản giảm, cũng như nhân lực lao động và chuyên môn đã di chuyển về những vùng không bị ô nhiễm phóng xạ, do đó tình trạng thiếu lao động trong vùng càng làm cho mức phát triển bị sút giảm nặng nề.

Về kinh tế,nông nghiệp và kỹ nghệ hầu như bị tê liệt hoàn toàn, và chính phủ Ukraine ước tính mức thiệt hại hàng năm lên đến 13 tỷ Mỹ kim.

Hỏi: Từ những kinh nghiệm do tại nạn ở Chernobyl, thế giới có biện pháp đề nghị nào để có thể tránh các tai nạn tương tự trong tương lai thưa Tiến sĩ?

Mai Thanh Truyết: Dạ có thưa anh, từ thảm nạn kinh hoàng trên và những hậu quả tiếp theo, kéo dài hàng chục năm sau đó, Cơ quan Môi trường Hoa Kỳ và các quốc gia khác trên thế giới qua nhiều phiên họp đã đề ra các khuyến cáo sau đây hầu có thể tránh những tai nạn tương tự xảy ra trong tương lai:

- Trước hết, cần phải chuẩn bị tư tưởng và tâm lý cho tất cả nhân viện trực tiếp hay gián tiếp tham dự vào việc điều hành một lò phản ứng hạch nhân về vấn đề an toàn trong vận hành. Mọi bất thường dù nhỏ đến đâu cũng cần phải được báo cáo lên cấp trên ngay tức khắc, và phải được ban điều hành giải quyết ngay sau đó;

- Ủy ban luật định lò phản ứng (Nuclear Regulatory Commission) cần phải luôn luôn giữ vai trò tích cực và cương quyết trong việc áp dụng luật lệ ở các nhà máy hạch nhân, để đề phòng tai nạn có thể xảy ra trước việc các nhà máy không tuân thủ đúng theo quy định an toàn của ủy ban.

- Thường xuyên huấn luyện và tái huấn luyện nhân sự cũng như thực tập một số tai nạn giã tạo để khảo sát khả năng ứng đối của nhân viên trong trường hợp xảy ra tai nạn thật sự.

Nếu thực hiện được những điều trên, hy vọng tai nạn tại Chernobyl sẽ không còn xảy ra trên hành tinh của chúng ta nữa. Còn đối với những quốc gia chưa có kinh nghiệm về việc tinh luyện chất Uranium- 235 như Việt Nam, việc thiết lập và xây dựng một lò phản ứng cần phải có nhiều chuẩn bị hơn nữa. Một trung tâm nghiên cứu việc tinh luyện và việc huấn luyện nhân sự chuyên môn là hai điều cần yếu đòi hỏi một thời gian ít nhất là 20 năm trong trường hợp Việt Nam. Bao giờ hai mục tiêu trên được thỏa mãn, lúc đó Việt Nam có thể bắt đầu xây dựng lò phản ứng hạch nhân cho nhu cầu năng lượng cũng vẫn chưa muộn.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang