Kinh tế Mỹ: Cái phao xì của Á Châu?

2000-11-27
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Lời giới thiệu: Cùng với sự suy sụp kinh tế Hàn Quốc, từng được khen là phục hồi mạnh nhất trong năm xứ Đông Á bị khủng hoảng thời 97-98, toàn vùng Châu Á nay đang chờ đợi một đợt suy thoái kinh tế mới, đi cùng nhiều nguy cơ biến động chính trị. Nhưng, khác với lần trước đây, lần này các nước trong khu vực chưa chắc đã tìm được nguồn lực cấp cứu từ nền kinh tế Mỹ. Lý do là kinh tế Hoa Kỳ nay cũng đã có chỉ dấu suy trầm đáng ngại. Diễn đàn Kinh tế kỳ này xin nói về những chỉ dấu đáng ngại đó, qua bài nhận định của Nguyễn An Phú... Tháng Giêng năm 1997, khi thế giới như chưa biết gì về biến động kinh tế Châu Á, thì tập đoàn thép Hanbo Iron & Steel của Hàn Quốc tuyên bố vỡ nợ. Sáu tháng sau, khi Thái Lan thả cho đồng baht của họ chìm giá theo sức ép của thị trường, kinh tế Á Châu chính thức trôi vào khủng hoảng, và Hàn Quốc cũng bị tai họa cùng bốn nước Đông Nam Á khác là Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia. Cuộc khủng hoảng kéo dài suốt 18 tháng, đến cuối năm 1998 mới tạm nguôi, và các nước Á Châu mất thêm gần hai năm để tạm bình phục. Trong các nước bị khủng hoảng, Hàn Quốc phục hồi nhanh nhất và mạnh nhất Đông Á. Nhưng, như Diễn đàn Kinh tế trình bày từ tháng trước, kinh tế Hàn Quốc nay đang gặp nhiều khó khăn và có thể lại gặp khủng hoảng nữa, với một loạt tập đoàn công nghiệp lớn nhất bị nguy cơ phá sản hoặc vỡ nợ. Như các xứ kia, thị trường chứng khoán Hàn Quốc mất giá một nửa so với chỉ số của đầu năm. Nhưng, nếu khủng hoảng lại bùng nổ, lần này các nước Á Châu sẽ không được Hoa Kỳ cấp cứu như trước đây. Ngược lại, có khi là sự suy thoái kinh tế Mỹ trong thời gian tới còn châm ngòi cho đợt khủng hoảng mới của Á Châu. Người ta nhớ rằng, vào tháng Bảy năm 1997, khi Á Châu bắt đầu gặp sóng gió tài chánh và ngoại hối, Tổng thống Mỹ Bill Clinton lạc quan tuyên bố, rằng biến động đó thực sự không đáng ngại, và rằng Á Châu sẽ thoát khỏi khủng hoảng. Tình hình sau đó lại trầm trọng hơn và đến tháng Tám năm 1998, khủng hoảng lan từ Đông Á tới Liên bang Nga và cả xứ Brazil tại Nam Mỹ Châu rồi dội về Mỹ, khiến một tập đoàn đầu tư tài chánh rất lớn của Mỹ phải đăng ký phá sản. Chính hiệu ứng lan rộng đó mới khiến Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ, là cơ chế có trách nhiệm của hệ thống ngân hàng trung ương, cắt giảm lãi suất ngắn hạn trên thị trường. Nhờ biện pháp đó mà, dù Mỹ không chính thức can thiệp và tung tiền cấp cứu kinh tế Đông Á, thị trường Mỹ vẫn là nguồn tiêu thụ hàng hóa Châu Á khiến kinh tế và ngoại thương Á Châu sớm thoát cơn khủng hoảng, khi bán hàng cho Mỹ. Cho nên, kinh tế Mỹ bị nhập siêu tới mức kỷ lục nhưng Á Châu lại có đầu máy rất mạnh để kéo mình ra khỏi suy thoái. Điều đáng tiếc là nhờ sự hồi phục mau lẹ tới bất ngờ đó, các nước Châu Á lại mắc bệnh chủ quan tự mãn, và đình hoãn những việc cải cách cần thiết, tức là giải trừ những nguyên nhân nội tại đã gây ra khủng hoảng. Do vậy mà từ Hàn Quốc xuống tới Thái Lan, Philippines hay Indonesia, các nước Á Châu mới đang bị đe dọa khủng hoảng lần nữa. Lần này, kinh tế Mỹ chưa chắc lại có thể cấp cứu Á Châu, vì cũng đang bị nguy cơ suy thoái. Lý do vì sao kinh tế Mỹ lại bị như vậy là điều chúng ta cần nhắc lại ở đây. Kể từ tháng Ba năm 1991, là khi ông George Bush còn làm Tổng thống, cho tới tháng Tám vừa qua, kinh tế Mỹ trải qua chu kỳ tăng trưởng liên tục, khả quan và mỹ mãn nhất, với lạm phát và thất nghiệp thấp. Cùng với chu kỳ kinh doanh khả quan này, từ giữa năm 1995, kinh tế Mỹ còn thấy xuất hiện một thức dạng mới, gọi là kinh tế tin học, kinh tế tri thức hay kinh tế siêu kỹ thuật, nhờ sức phát triển của các công ty áp dụng kỹ thuật cao vào sản xuất. Kết quả tổng hợp là kinh tế tăng trương mạnh, các cổ phiếu cũng lên giá, trung bình 20% mỗi năm trong năm năm liền, nên tạo ra sự thịnh vượng phụ trội, khiến dân chúng càng tiêu thụ và càng đẩy số cầu lên cao hơn. Người Mỹ gọi đó là hiệu ứng phồn thịnh, là sự phồn thịnh trên thị trường chứng khoán kéo theo sự phồn thịnh của sản xuất thực tế. Nhờ đó, Mỹ mới mua hàng Á Châu, từ tư liệu điện toán, cơ phận bán dẫn tới hàng tiêu thụ đủ loại, và góp phần kéo Á Châu ra khỏi bão tố. Nhưng, một số yếu tố về cả thời cơ lẫn cơ cấu đã xảy ra và cùng tác động vào kinh tế, khiến người ta chờ đón một đợt suy trầm mới trong thời gian tới. Trước hết, khi thị trường chứng khoán lên giá, giới đầu tư có cảm tưởng là mình thành giàu có hơn nên mua sắm nhiều hơn. Nhưng, sau năm năm liền tăng giá, từ mùa Xuân vừa rồi, các thị trường chứng khoán đều sụt và hiệu ứng phồn thịnh đã tác động ngược, tức là làm cho dân chúng tự nhiên tần tiện và ít tiêu xài hơn. Yếu tố này đã bắt đầu và sẽ tác động mạnh hơn vào năm tới. Yếu tố thứ hai là nạn dầu thô tăng giá trên thế giới, từ 10 đồng một thùng vào cuối năm 1998 khi cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á đánh sụt số cầu, giá dầu thô trong năm nay trung bình tăng gấp ba, và ảnh hưởng tới hầu hết các nước, kể cả Hoa Kỳ, vì xứ này vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài hơn phân nửa số dầu tiêu thụ của mình. Yếu tố thứ ba là, sau khi cắt lãi suất để kích thích tiêu thụ và cung ứng yêu cầu tiền tệ cho dễ dàng hơn vì khủng hoảng Á Châu, thì từ tháng Sáu năm ngoái tới tháng Tám năm nay, Hoa Kỳ đã sáu lần nâng lãi suất hầu tránh cho nền kinh tế tăng trưởng quá mạnh khỏi bị nóng máy mà gây lạm phát. Hậu quả của việc tăng lãi suất là làm chậm nhịp sản xuất, như Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ trù tính nhằm chặn trước nạn lạm phát, nhưng nó lại xảy ra gần như cùng lúc với nạn dầu thô gia tăng. Tác dụng cộng hưởng của hai biến cố trên làm kinh tế chẳng những chậm nhịp sản xuất mà còn có thể bị sụp vào chu kỳ trũng, tức là bị nạn suy trầm. Điều đó bắt đầu xảy ra trong thực tế, đối với các ngành sản xuất cổ điển thuộc nền kinh tế ta gọi là cũ, đối lập với thức dạng kinh tế mới... Thí dụ như tính đến tháng 11 thì trong ba tháng cuối, các ngành chế biến nguyên vật liệu, tức là ngành sản xuất cũ, chỉ tăng trưởng khoảng 4,6% quy ra toàn năm, so với hơn 5,2% như trước đây. Đồng thời, tiền Mỹ tăng giá so với hầu hết các ngoại tệ lớn trên thế giới càng khiến giới sản xuất Mỹ khó cạnh tranh và mất một thị phần trên trường quốc tế. Như vậy, sau chu kỳ tăng trưởng tốt đẹp, nền sản xuất công nghiệp Mỹ đã bị khựng, và có thể tuột vào trạng thái suy trầm vì tín dụng khan hiếm đắt đỏ hơn và vì dầu thô tăng giá, trong khi số cầu của thị trường có giảm sút. Tình trạng này lại còn đáng lo ngại hơn nữa vì nền kinh tế gọi là siêu kỹ thuật cũng gặp khó khăn. Doanh lợi các công ty ứng dụng công nghệ tin học đều bị sụt và thị trường chứng khoán Nasdaq bao gồm đa số là công ty kỹ thuật loại đó đã mất giá tới gần một nửa, kể từ đỉnh cao hồi tháng Ba năm nay. Nhiều nhà quan sát còn e rằng chính là khu vực kinh tế mới này sẽ bị suy thoái, nghĩa là nặng hơn suy trầm, và kéo toàn nền kinh tế vào những biến động đáng ngại trong năm tới này. Nhưng Ộhọa vô đơn chíỢ, vụ bầu cử tổng thống đầy ách tắc bất ngờ còn làm giới đầu tư lo sợ hơn. Họ lo ngại là tân Tổng thống Mỹ không đủ tư thế vận động sự hợp tác giữa hai đảng trong Quốc hội, và chính quyền Mỹ có thể sẽ bị tê liệt trong mấy năm tới. Vì vậy, mỗi ngày có thêm tin tức về sự tranh cãi trong việc kiểm phiếu tại bang Florida là các chứng khoán Mỹ lại thêm một lần sụt giá. Giới quan sát kinh tế mới kết luận, rằng dù bất cứ ai làm Tổng thống, việc đầu tiên mà ông Gore hay ông Bush phải làm sau khi tuyên thệ nhậm chức, là trấn an thị trường và kéo kinh tế ra khỏi suy thoái. Từ nay đến đó, nếu Á Châu lại bị khủng hoảng về chính trị, hoặc kinh tế, hoặc vì cả hai yếu tố chính trị lẫn kinh tế, Hoa Kỳ sẽ chẳng ở vào tư thế có thể giúp đỡ được gì nhiều. Có lẽ cũng vì vậy mà tin bất ổn về bầu cử tại Mỹ có góp phần làm các thị trường chứng khoán Á Châu mất giá theo, như người ta chứng kiến hàng tuần, kể từ ba tuần nay./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang