Nga ghi nhớ vai trò của Liên Xô cũ trong cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979

Bấm vào đây để nghe bản tin này

Rightclick to download this audio

Sergei BlagovLiên Bang Nga vẫn ghi nhớ vai trò to lớn của Liên Xô cũ trong cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979. Chẳng hạn, vào ngày 19 tháng 3, tờ báo Izvestia (Nga) bình luận rằng “Liên Xô cũ đã gốp phần quyết định và chiến thắng của Việt Nam.” Tờ báo Izvestia nhắc lại về vai trò của Trưởng cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam, Ðại tướng Guennady Obaturov.

Đúng 25 năm qua, nhiều diễn biến xẩy ra, khiến cho Bắc Kinh và Hà Nội không tránh được đụng độ trực tiếp. Lý do chính là Hà Nội theo sát con đường Liên Xô chống Trung Quốc, tranh chấp Việt-Hoa về lãnh thổ, và việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia. Từ cuối năm 1978, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu kêu gọi dân chúng sẵn sàng chống lại "chủ nghĩa bành trướng của nước lớn và ý đồ bá quyền của bọn Hán phong kiến." Liên hệ Việt-Hoa "môi hở răng lạnh" tan rã.

Mặt khác, vào ngày 3 tháng 11, 1978, Nga và Việt ký Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác, trong đó điều 6 đặc biệt ghi rằng đôi bên sẽ áp dụng "các biện pháp thich nghi và hữu hiệu để bảo vệ hòa bình và an ninh" nếu một trong hai nước bị đe dọa hay tấn công. Liên Xô được phép lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh và Đà Nẵng. Đầu năm 1979, số cố vấn và chuyên viên Xô Viết tại Việt Nam tăng lên 8,000. Phần thưởng của sự nhân nhượng này là Mạc Tư Khoa bật đèn xanh cho Hà Nội xúc tiến thực hiện và điều khiển "Liên Bang Đông Dương.

Tiếp theo Việt Nam chiếm đóng Campuchia. Vào ngày 7 tháng 1, 1979, với sự đồng ý và hỗ trợ vũ khí của Mạc Tư Khoa, 100,000 quân Việt tràn ngập Cao Miên và toàn thắng sau 1 tuần lễ. Nên cuộc "hành quân trừng phạt" của Quân đội Nhân dân Trung Quốc bắt đầu vào ngày 17 tháng 2, năm 1979, lúc 5 giờ sáng, theo chiến thuật "biển người", đến 600,000 lính Tàu tràn vào Lạng Sơn, (phía Đồng Đăng), Cao Bằng, Đồng Khê, Mông Cáy, và Lào Cai sau khi pháo kích mãnh liệt. Ngày 3 tháng 3, các tỉnh lỵ Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai và 17 quận thất thủ.

Đáng lưu ý, Ðại tướng Obaturov bắt đầu chuẩn bị sang Việt Nam từ cuối năm 1978. Theo Tướng Yevstafy Melnichenko, cựu chuyên viên Bộ tham mưu Liên Xô, Mạc Tư Khoa đã biết trước Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam nên nhóm cố vấn do Tướng Obaturov dẫn đầu đã được thành lập từ đầu tháng 2, năm 1979. Ðại tướng Obaturov (1915-1996), nhà chuyên môn về xe tăng, từng trực tiếp thăm gia hai vụ Liên Xô can thiệp quân sự ở Tiệp Khắc (1968) và Hungaria (Hung Gia Lợi, năm 1956). Vào ngày 19 tháng 2, nhóm cố vấn quân sự Liên Xô bao gồm tổng cộng 20 viên Tướng đã bay qua Calcutta và đến Hà Nội.

Sau khi làm việc với Ðại tướng Văn Tiến Dũng và Bộ tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, Tướng Obaturov đã trực tiếp đến vùng Lạng Sơn và gần như bị lính Tàu giết hại. Tiếp theo, Tướng Obaturov đã gặp tổng bí thư Lê Duẩn và thuyết phục lãnh đạo Hà Nội rút một lữ đoàn từ Campuchia chuyển sang vùng Lạng Sơn. Phần lớn lữ đoàn đó do các máy bay vận tải Nga An-12 vận chuyển. Sau khi lữ đoàn Việt từ Campuchia đã đến biên giới phía Bắc, sự tiến quân Trung Quốc, mau lẹ lúc dầu, lần hồi bị chận lại.

Mạc Tư Khoa cũng yêu cầu Tàu rút binh khởi Việt Nam. Thủ Tướng Alexey Kosygin và Tổng bí thơ Leonid Brezhnev cực lực lên án Trung Quốc. Căn cứ vào Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác Nga-Việt, Điện Kremlin đã tập trung 25 sư doàn gần biên giới giữa Siberi và Trung Quốc, đe dọa trùng phạt Bắc Kinh nếu họ không ngưng chiến dịnh chống Việt Nam. Sau đó, đến ngày ngày 17 tháng 2, 1979, không còn đơn vị Trung Quốc nào ở Việt Nam.

Số tổn thương của hai bên đều nặng. Phía Trung Quốc đã có đến 60,000 quân tử thương, mất 280 xe tăng, trong khi phía Việt Nam đã có đến 30,000 quân và dân thường tử thương.

Việt Nam lẫn Trung Quốc đều tuyên bố thắng trận nhưng không xứ nào hoàn thành mục tiêu chính yếu. Trung Quốc không hủy được một sư đoàn Việt nào, không chấm dứt được xung đột tại biên giới, không ép được các đơn vị Việt rút khỏi Campuchia. Đối với Việt Nam, hậu quả của cuộc chiến khá nặng nề. Trong vòng một năm, 1979-1980, ngân sách quốc phòng Việt Nam tăng rất mạnh, lục quân vượt từ 600,000 bộ binh lên một triệu vì lý do an ninh và cũng vì nhu cầu chiếm đóng Miên và Lào. Vào những năm 1979-1982, Ðại tướng Obaturov tiếp tục hướng dẫn chiến dịch lục quân Việt ở Lào và Campuchia.