Thưa quí thính giả, cách đây một tháng 4 ngày là ngày giỗ thứ 10 của Quang Dũng, một nhà thơ lớn của chúng ta. Quang Dũng lớn, không những do các bài thơ ông để lại, mà còn lớn ở cung cách an nhiên, tự tại đối với những trù dập, phê phán của giới lãnh đạo văn nghệ đảng, những người mà dân chúng gọi là Ộbọn ngự sử văn nghệỢ. Trong Mục Những Tiếng Nói Độc Lập hôm nay, chúng tôi xin nhớ về Quang Dũng, như một nén hương tưởng niệm con người tài hoa này.Quang Dũng sinh năm 1921, quê ở làng Phùng, thôn Phượng Trì, xã Đan Phượng, trước kia thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Năm 1898, khi tỉnh Hà Đông mới thành lập, trấn Sơn Tây đó được nhập vào phủ Hoài Đức, rồi qua năm 1965 lại thuộc tỉnh Hà Tây. Khi đất nước thống nhất năm 1975, trấn Sơn Tây lại thuộc vào Hà Sơn Bình, để rồi, từ 1978 trở đi, nhập vào Hà Nội. Sở dĩ chúng ta phải dài dòng về nơi sinh của Quang Dũng, vì có như vậy, ta mới hiểu được các địa danh thường xuất hiện trong thơ của ông. Tỷ như câu ỘSông Đáy chậm nguồn qua Phủ QuốcỢ. Phủ Quốc đây chính là phủ Quốc Oai.Quang Dũng có tên trên khai sinh là Bùi Đình Diễm, có nơi ghi là Diệm. Vì sinh năm Tân Dậu 1921, ông còn có tên cúng cơm là Dậu. Thời mới lớn, ông học trường trung học Thăng Long Hà Nội và làm nhiều nghề khác nhau để sinh sống, và lấy bí danh Quang Dũng khi tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1946, ông chiến đấu trong Trung Đoàn Thủ Đô bảo vệ Hà Nội. Trận địa ngắn ngủi này đã hằn sâu vào tâm khảm nhà thơ. Bài trường ca tựa đề ỘSử một trung đoànỢ được ông khởi thảo năm 1947 để nói về những ngày bảo vệ thủ đô, và mãi cho tới những năm sau như 1956, 1970, ngọn lửa chiến đấu cho thủ đô vẫn hực nóng trong thơ của ông. Khi Trung Đoàn Thủ Đô rút khỏi Hà Nội vào một đêm tháng Chạp năm 1946 rồi sau đó bị giải thể, Quang Dũng được điều qua làm phái viên phòng quân vụ Bắc Bộ, theo học một huấn luyện quân sự tại Tông thuộc tỉnh Sơn Tây, rồi gia nhập đoàn quân Tây Tiến chiến đấu tại vùng rừng núi. Chính là vào giai đoạn này mà bài thơ Tây Tiến của ông ra đời. Không người nào từng tham gia kháng chiến, hay những thế hệ đi sau, mà không thuộc ít nhiều một vài câu của bài này. Năm 1948, đoàn quân Tây Tiến bị giải thể, Quang Dũng lúc đó là đại đổi trưởng, ông được phục viên và làm công tác văn hóa tại Thanh Hóa cho đến 54 thì về Hà Nội. Năm 1956, ông dính vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm vì mấy bài hồi ký như ỘBờ HồỢ, ỘXiếc KhỉỢ, nhưng bản án không nặng lắm so với Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang.....v..v..Quang Dũng là người tài hoa. Ngoài viết văn, làm thơ, ông còn chơi đàn nhị, sáng tác nhạc và vẽ. Từ năm 1983 cho đến khi mất, Quang Dũng bị liệt. Ông sống nhờ vào lòng tận tụy của vợ và hai con gái. Quang Dũng mất tại nhà ở phố Nguyễn Công Trứ- Hà Nội lúc 10 giờ đêm ngày 13 tháng Mười năm 1988, thọ 67 tuổi.Những tác phẩm của Quang Dũng đã được xuất bản là Đường Lên Châu Thuận, Rừng Về Xuôi, Nhà Đồi, tập thơ Rừng Biển Quê Hương in chung với Trần Lê Văn. Riêng tác phẩm Mây Đầu Ô chỉ được phép xuất bản năm 1986 khi ông đã bị liệt.Năm 845 trước Tây Lịch, Thiệu Công bên Tầu đã tâu với vua Chu Lệ vương nguyên văn như sau:ỘKhi nhà vua biết trị nước, thì thi sĩ tự do làm thơ, kép hát tự do đóng trò, các viên thái sử chép đúng sự thực, các đại thần biết can gián, người nghèo không dấu nỗi bất bình vì thuế má quá cao, thư sinh học bài lớn tiếng, người làm thợ thích và tìm kiếm công việc, dân bầy tỏ ý kiếân về mọi việc, và ông già, bà cả phàn nàn về đủ thứỢGần 3000 năm trước, dưới chế độ quân chủ phong kiến, mà những người cai trị còn biết nghĩ đến quyền dân trong tinh thần cởi mở như vậy. Thế còn dưới chế độ XHCN do đảng cộng sản Việt Nam cầm đầu thì sao? Cách đối xử của giới lãnh đạo văn nghệ đối với nhà thơ Quang Dũng là thí dụ điển hình về chính sách của đảng đối với những người cầm bút độc lập, không uốn cong ngòi bút theo đảng. Đối với nhiều thế hệ Việt Nam tính từ năm 1945 đến nay, không mấy ai không thuộc, hoặc cả bài, hoặc vài câu trong bài Tây Tiến của Quang Dũng. Chính bài này đã đưa Quang Dũng vào vườn thơ kháng chiến chống Pháp. Mối duyên ràng buộc giữa thơ và người gắn bó đến độ, cứ nói đến Quang Dũng là người ta liên tưởng đến bài Tây Tiến và ngược lại. Trước Tây Tiến, Quang Dũng đã làm thơ. Tuy nhiên, chỉ tới khi Tây Tiến ra đời, Quang Dũng mới tự khẳng định được mình. Ông bắt đầu hình thành một phong cách thơ, một diện mạo thơ.Trong tuyển tập thơ Quang Dũng do nhà Hồng Lĩnh xuất bản năm 1992, bạn thơ của Quang Dũng là Trần Lê Văn viết rằng, Ộkhi lên thăm bản mường Hòa Bình, bao giờ ta chả lấy làm sung sướng được thở hít cái hương vị đã được tả trong bài Tây Tiến như trong câuỢ:Mai Châu mùa em thơm nếp sôi.Hình ảnh đoàn quân kháng Pháp trong bài Tây Tiến thật não lòng: da xanh, tóc rụng vì số rét và thiếu ăn, thiếu thuốc uống. Số người chết vì bệnh nhiều hơn số thương vong ngoài trận địa.Tây Tiến đoàn binh không mọc tócQuân xanh màu lá giữ oai hùngỞ một đoạn khác trong bài, Quang Dũng còn nói lên nỗi cô liêu của những nấm mồ chiến sĩ nơi đất lạ quê người:Rải rác biên cương mồ viễn xứChiến trường đi chẳng tiếc đời xanhÁo bào thay chiếu anh về đấtSông Mã gầm lên khúc độc hành.Trong lúc đoàn quân Tây Tiến phải chiến đấu trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế, thì tại Hà Nội, Bộ tư lệnh quân Việt Minh, tức là tiền thân của bộ đội cộng sản sau này, đã viết một văn thư đề ngày 1 tháng 2 năm 47 chỉ thị rằng: Ộcác đơn vị phải thành công với công cuộc Tây TiếnỢ. Nhà phê bình Đặng Tiến, trong bài nói chuyện tại Paris năm 1988 nhân tưởng niệm Quang Dũng đã đặt câu hỏi, là thành công bằng cách nào khi các đơn vị không có hỏa lực, thiếu tiếp vận và nhất là thiếu dân? Chưa kể rằng chiến lược lúc đó không phải là không có sai lầm.Cũng theo lời Đặng Tiến, khi Quang Dũng viết:Áo bào thay chiếu anh về đấtSông Mã gầm lên khúc độc hànhthì không phải chỉ có khí vị tráng sĩ và anh hùng cá nhân, mà có cả thực tại đau thương. Những đau thương bi hùng và thiêng liêng như vậy, mà 10 năm sau khi bài thơ đã thổi lửa trong kháng chiến, tức năm 1958, Tố Hữu đã mang bài tho ra xỉ vả. Quan ngự sử văn nghệ của đảng đã trì triết Quang Dũng là Ộtư tưởng sa đọa, văn hóa đồi trụy, chỉ mơ đến Sơn La gái đẹp, Sông Mã cọp gầmỢ. Và về hùa với Tố Hữu, nhiều quan văn nghệ còn chê bai thơ Quang Dũng là thiếu lửa, đã không tả được tính Ộnhiệm vụ nào cũng hoàn thành, trở ngại nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng chiến thắngỢ do đảng yêu cầu.Quang Dũng đã chịu nhiều oan khuất trong suốt một thời gian dài do chính sách muốn biến văn nghệ sĩ thành bồi bút của đảng. Nói về tâm trạng cay đắng này của Quang Dũng, trong dịp dỗ 10 năm của ông, một bài báo trong nước đã viết nguyên văn như sau:Đối với Quang Dũng, sự nổi danh quả là xa lạ. Thậm chí, ông còn mang nỗi lo sợ của sự nổi danh. Tây Tiến với Ộáo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hànhỢ, với Ộmắt trừng gởi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơmỢ... hình như đã làm khổ ông suốt một thời gian dài, cho đến năm ông nằm liệt trên giường bệnh, trước lúc qua đời.Ngót 40 năm, Tây Tiến là đứa con đầu, vạm vỡ và khôi ngô của ông, thế nhưng ông đã phải từ chối nó.Thương ông biết mấy, vì chỉ đến khi ông nằm liệt, Tây Tiến mới được đưa vào tập Mây Đầu Ô. Có nghĩa là phải đến lúc này, Tây Tiến mới được vẹn nguyên trở về với người đã sinh ra nó để nhận lại vị trí của đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện, không chỉ của ông mà còn là của cả nền thơ kháng chiến, ở vị trí mở đầu, ít có bài nào thay thế được, và cũng không ai ghen tỵ với nó được.Tây Tiến chịu số phận long đong một thời gian dài, có thể nói là quá dài, trên dưới 40 năm, như một sản phẩm chính tác giả muốn quên đi; nhưng phải nói là cũng suốt bấy nhiêu năm, nó không bị quên trong một bộ phận công chúng độc giả.Cái hào hoa làm nên dấu ấn một thời, cái hào hoa vốn có sẵn trong tâm trí một lớp người trai trẻ vào cách mạng, cái hào hoa của người Hà Nội và của cả Xứ Đoài lại chính là cái làm nên men xay và chất lãng mạn mà con người rất cần cho những cuộc ra đi, những cuộc lên đường.....Thưa quí thính giả, Mục Những Tiếng Nói Độc Lập tuần này đến đây là tạm ngưng. Hẹn gặp lại quí vị vào tuần tới.
