Chống Lạm phát tại Việt Nam


2007-08-28
Share

Nguyễn Xuân Nghĩa – Nguyễn Khanh, RFA

Trong bảy tháng đầu năm vừa qua, chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam đã tăng 7,55% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong các loại hàng tiêu thụ, thì chỉ số tăng giá đã lên cao nhất cho lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống, là mặt hàng cần yếu cho đa số người dân. Vì vậy, từ mấy tháng qua, chính quyền Việt Nam đã vất vả đối phó với nguy cơ lạm phát.

AFP PHOTO

Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về nỗ lực phòng chống nạn vật giá gia tăng tại Việt Nam, qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Nguyễn Khanh thực hiện sau đây.

Nguyễn Khanh: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Từ nhiều tháng nay, vật giá gia tăng đã là mối quan tâm của người dân ở tại Việt Nam vì làm cho sức mua của đồng bạc bị hao hụt. Tính từ hơn bốn năm nay thì nói chung đã bị soi mòn mất hơn một phần ba.

Vì vậy, trong chương trình chuyên đề kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta đề cập tới nạn giá cả gia tăng, hay là nạn lạm phát, và về cách quản lý kinh tế để ngăn ngừa lạm phát. Câu hỏi trước tiên của chúng tôi, thưa ông, là vì sao lại có nạn lạm phát tại Việt Nam?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tùy theo tầm nhìn xa hay gần, sâu hay nông mà ta có thể thấy ra nhiều nguyên nhân của lạm phát tại Việt Nam. Nhìn vào cơ cấu kinh tế thì lạm phát có nguyên do sâu xa nên đã và sẽ còn xảy ra.

Nhìn vào cận cảnh ở bề mặt thì lạm phát xảy ra do nhiều biến cố như thiên tai dịch bệnh làm giảm số cung về lương thực thực phẩm, nhất là thịt; như giá cả nguyên nhiên vật liệu Việt Nam phải nhập khẩu cho nền kinh tế gia công của mình đã tăng vọt nên xứ này nhập khẩu luôn lạm phát ở đầu vào, làm gia tăng giá thành sản xuất.

Nhưng nóng bỏng nhất, lạm phát xảy ra vì tháng Năm vừa qua, Ngân hàng Nhà nước tại Việt Nam đã bơm ra một lượng tiền quá lớn là 112 ngàn tỷ đồng bạc để mua vào bảy tỷ Mỹ kim cho khối dự trữ ngoại tệ.

Nhìn vào cận cảnh ở bề mặt thì lạm phát xảy ra do nhiều biến cố như thiên tai dịch bệnh làm giảm số cung về lương thực thực phẩm, nhất là thịt; như giá cả nguyên nhiên vật liệu Việt Nam phải nhập khẩu cho nền kinh tế gia công của mình đã tăng vọt nên xứ này nhập khẩu luôn lạm phát ở đầu vào, làm gia tăng giá thành sản xuất.

Lượng tiền quá lớn được lưu thông đã lập tức thổi lên lạm phát, vốn là - theo định nghĩa - phát hành quá lạm số tiền tệ lưu hành so với số hàng hoá khả dụng. Đây là biểu hiện rất tệ của khả năng quản lý kinh tế theo chủ trương vốn dĩ dễ gây ra lạm phát, là loại lý do cơ cấu sâu xa về cung cầu như tôi vừa trình bày.

Tình hình cung cầu

Nguyễn Khanh: Ông vừa nói về tình hình cung cầu, như vậy, liệu có thể cho rằng lạm phát bùng nổ vì số cầu, thể hiện ở đồng bạc lưu hành, đã vượt số cung là khối lượng hàng hoá được cung ứng cho thị trường hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa đúng như vậy, khi thiên tai dịch bệnh, như bệnh cúm gia cầm, dịch heo tai xanh đã đánh sụt lượng hàng khả dụng, và gây ảnh hưởng đến giá cả của tôm cá vì thiếu thịt thì phải ăn cá mà không đủ.

Ngoài ra, phải nói đến một nguyên nhân khác trong vế cung là hệ thống phân phối và tồn kho quá thô thiển của Việt Nam nên không kịp đáp ứng những xoay chuyển của tình hình sản xuất, đánh bắt. Trong khi ấy, nạn độc quyền quá mạnh của một số doanh nghiệp nhà nước đã khiến các doanh nghiệp này lời lớn nhờ giá cả gia tăng, trong khi dân nghèo thì khổ lớn vì vật giá nhu yếu phẩm vẫn tăng.

Nguyễn Khanh: Đó là về vế cung như ông nói, còn về mặt cầu thì sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về mặt cầu thì việc bơm tiền mua lại bảy tỷ đô la ngoại tệ, tức là hơn 10% tổng sản lượng cả năm của cả nước, đi với khả năng thu hút lượng tiền dư dôi lại rất kém của ngân hàng vì lãi suất huy động quá thấp mới khiến người ta không điều tiết nổi khối tiền tệ lưu hành và tiếp tục đẩy số cầu khi số cung đã giảm từ đầu năm nay.

Cho nên, ta không ngạc nhiên về nạn vật giá gia tăng, là điều đã thấy từ đầu năm, mà nên ngạc nhiên về khả năng ứng phó lụp chụp chắp vá của các cơ quan hữu trách, nhất là của Ngân hàng Nhà nước. Mà sở dĩ như vậy và đây là cái gốc của vấn đề, là vì định chế này phải thi hành những chính sách đầy nguy hiểm của lãnh đạo về chiến lược kinh tế.

Biện pháp ngăn chặn

Vì trình độ quản lý vĩ mô hay toàn quốc rất kém nên không có sự phối hợp cần thiết của các cơ quan hữu trách khi phải tung ra biện pháp chặn đứng lạm phát từ đầu năm. Lý do quản lý vẫn kém sau hai chục năm đổi mới là vì quan niệm kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái định hướng ấy khiến chính quyền không dùng hay chưa thể dùng đòn bẩy của quy luật cung cầu hầu điều tiết khối tiền tệ lưu hành.

Nguyễn Khanh: Chúng ta sẽ đề cập tới chiến lược đó sau khi duyệt lại một số biện pháp ngăn chặn lạm phát đã được Việt Nam thi hành, là điều mà thính giả muốn nghe ông phân tích.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì trình độ quản lý vĩ mô hay toàn quốc rất kém nên không có sự phối hợp cần thiết của các cơ quan hữu trách khi phải tung ra biện pháp chặn đứng lạm phát từ đầu năm. Lý do quản lý vẫn kém sau hai chục năm đổi mới là vì quan niệm kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái định hướng ấy khiến chính quyền không dùng hay chưa thể dùng đòn bẩy của quy luật cung cầu hầu điều tiết khối tiền tệ lưu hành.

Thay vào đó là loại biện pháp hành chính, thể hiện rõ nhất ở việc kiểm soát giá cả. Ngay từ cách nói, ta đã thấy thể hiện tinh thần tai hại ấy. Thay vì nói về mục tiêu ổn định vật giá tức là quân bình cung cầu - về hàng hoá hay tiền tệ - giới hữu trách trong nước cứ nói đến "kiểm soát giá cả", vì chưa thoát khỏi quan niệm cũ là nhà nước kiểm soát tất cả.

Nguyễn Khanh: Ông có thể đơn cử vài thí dụ về hiện tượng kiểm soát đó chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thí dụ cụ thể là cùng lúc với việc bơm tiền thu về bảy tỷ Mỹ kim thì hồi tháng Năm đã cho thả nổi giá xăng dầu, vì dầu khí nhập khẩu lên giá, thì qua tháng Tám lại đòi các hãng cung cấp giảm giá xăng dầu để hạ bớt phí tổn sản xuất và vận chuyển hàng hoá. Một thí dụ khác là biện pháp giảm thuế nhập khẩu trên một số mặt hàng, như là xe hơi!

Biện pháp thuế khoá ấy chậm có tác dụng - mà nếu có thì cũng chẳng hạ nhiệt cơn sốt giá cả. Mâu thuẫn ở đây là Việt Nam vẫn duy trì hiện tượng độc quyền nên đành điều tiết bằng quyết định hành chánh, vốn là loại quyết định vô hiệu trong thị trường. Chưa kể là giảm thuế sẽ giảm thu và gia tăng bội chi ngân sách, làm lạm phát càng dễ bùng nổ.

Chiến lược phát triển xuất khẩu

Nguyễn Khanh: Ngoài biện pháp thuế khoá như giảm thuế nhập khẩu thì còn biện pháp nào khác?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Ngoài biện pháp thuế khoá thật ra chậm công hiệu và ít tác dụng vì chế độ kế toán còn thô sơ của các doanh nghiệp, người ta có đòn bẩy về tín dụng và tiền tệ thì lãi suất do các ngân hàng thương mại trả cho trương chủ ký thác tiết kiệm hiện vẫn ở số âm nếu so với giá cả và các cơ hội sinh lời khác.

Nói vắn tắt thì Việt Nam theo chiến lược mở cửa nửa vời, chủ yếu là làm gia công cho thiên hạ bằng cách nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu cho dân mình chế biến trên thiết bị và công nghệ cũng nhập khẩu. Ăn lời nếu có là nhờ tiền lương thật ra cũng thấp hay nhờ hay bán nông khoáng sản ra ngoài.

Mà ngân hàng thương mại cổ phần chẳng có lý do gì nâng lãi suất trả cho trương thủ để hút vào lượng tiền tệ lưu hành khi lãi suất hiện hành của họ vẫn còn cao hơn lãi suất của bốn ngân hàng thương mại quốc doanh.

Vì vậy, các ngân hàng thương mại gọi là của tư nhân không muốn trả tiền lời tiết kiệm cao hơn và góp phần thu hút lượng tiền lưu hành ngoài thị trường, nhất là khi họ vừa phải nâng khối dự trữ pháp định theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước. Biện pháp cần thiết và cấp tốc là phải phát hành trái phiếu ngắn và dài hạn có lãi suất hấp dẫn hơn, và nếu cần thì nên bán ngay ra một số dự trữ ngoại tệ vừa phải để hút bớt tiền ra khỏi kinh tế.

Nguyễn Khanh: Tuy nhiên, nếu bán dự trữ ngoại tệ ra thì có khiến tỷ giá đồng bạc Việt Nam lên giá hay không? Và điều ấy có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển xuất khẩu chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa ông vừa nói đến chiến lược phát triển xuất khẩu và đấy là vấn đề thuộc loại cơ cấu mà cũng là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của lạm phát tại Việt Nam.

Nói vắn tắt thì Việt Nam theo chiến lược mở cửa nở vời, chủ yếu là làm gia công cho thiên hạ bằng cách nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu cho dân mình chế biến trên thiết bị và công nghệ cũng nhập khẩu. Ăn lời nếu có là nhờ tiền lương thật ra cũng thấp hay nhờ hay bán nông khoáng sản ra ngoài. Chính là vì yêu cầu xuất khẩu như một ưu tiên, người ta mới bơm tiền mua Mỹ kim để gia tăng khối dự trữ ngoại tệ và giữ tỷ giá hối đoái thấp của đồng bạc hầu xuất khẩu cho rẻ, đâm ra thổi bùng lạm phát vào lúc nguy ngập.

Trong lúc ấy, nhập khẩu tăng về cả lượng và giá mà xuất khẩu lại không tăng cùng nhịp độ dù thị trường đã có đấy sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Hậu quả là mình bị nhập siêu nặng và trước mắt thì nhập khẩu luôn cả nạn lạm phát. Điều tai hại và bất công của chiến lược này là lạm phát chính là một loại thuế mù quáng đánh trên mọi người tiêu thụ.

Dân càng nghèo lại càng bị nặng khi nhu yếu phẩm tăng giá mà thu nhập của họ không tăng, là trường hợp phổ biến ở vùng quê. Các đại gia ở thành phố thì chẳng sợ gì vật giá vì họ có cách bù lại sự hao hụt giá trị của đồng tiền, nhất là khi họ giữ thế độc quyền và cưỡng chống được biện pháp kiểm soát giá cả của nhà nước.

Hậu quả

Nguyễn Khanh: Ông vừa trình bày ra một số gút mắc trong hiện tượng ông gọi là mầm lạm phát tiềm ẩn trong cơ cấu do chiến lược kinh tế của Việt Nam. Hậu quả của tình trạng đó là gì?

Gần thì nên quan niệm lại vai trò của Ngân hàng Nhà nước, vốn chưa có khả năng điều tiết tiền tệ và tín dụng độc lập lại còn phải thi hành những chính sách tai hại của nhà nước.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Hậu quả là một sự lệch lạc mà ít ai muốn nói đến hay nhìn ra vì vẫn còn hồ hởi với viễn ảnh hội nhập vào kinh tế toàn cầu. Lệch lạc vì chế độ kiểm soát giá cả vẫn còn trong thực tế. Chế độ kiểm soát ngoại hối hay hối đoái và định giá hối suất đồng bạc quá thấp là một lệch lạc khác.

Lệch lạc thứ ba là lãi suất quá thấp, thuộc số âm trong thực tế, đã cản trở tiết kiệm và sẽ còn gây ra nguy cơ lạm phát. Người ta không muốn nhìn ra những lệch lạc này và cứ nói đến triển vọng đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng, hay hàng hoá Việt Nam sẽ chiếm lĩnh nhiều thị trường mới. Tám tháng sau khi được bước ra ngoài làm ăn thì cơ cấu lệch lạc của Việt Nam khiến ta nhập khẩu lạm phát mà xuất khẩu không tăng mạnh. Tỷ giá đồng bạc có rẻ thì chưa đẩy mạnh xuất khẩu đã gây phí tổn nhập khẩu cao hơn.

Bây giờ khi phải lụp chụp chống đỡ lạm phát và kiểm soát giá cả không xong, mà khí cụ điều tiết tiền tệ không đủ tinh vi, người ta bèn áp dụng biện pháp thuế khoá và sẽ bội chi ngân sách cao hơn - một nguyên do khác của lạm phát - đi cùng khiếm hụt ngoại thương vì nhập nhiều hơn xuất.

Việc nên làm

Nguyễn Khanh: Câu hỏi cuối, thưa ông, theo quan điểm của ông, Việt Nam nên làm gì để kiểm soát được đà gia tăng vật giá?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Gần thì nên quan niệm lại vai trò của Ngân hàng Nhà nước, vốn chưa có khả năng điều tiết tiền tệ và tín dụng độc lập lại còn phải thi hành những chính sách tai hại của nhà nước.

Đồng thời, nên đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách ngân hàng để hệ thống ngân hàng có thể huy động tiết kiệm và phân phối tín dụng hữu hiệu hơn. Hai việc ấy chưa lập tức giải trừ được lạm phát nhưng sẽ xây dựng ra một cơ cấu tài chính ngân hàng lành mạnh hơn để có khả năng tài trợ việc phát triển trong sự ổn định của giá cả.

Song song cùng việc cải thiện hệ thống ngân hàng và nhất là phá vỡ thế lực quá mạnh của bốn ngân hàng thương mại quốc doanh khiến các ngân hàng thương mại cổ phần không có cơ hội bành trướng thì nên cải thiện chế độ phân phối bằng cách phá vỡ thế độc quyền của một số doanh nghiệp nhà nước. Chỉ có cạnh tranh mới cải thiện được phân phối và giúp hàng hoá lưu thông dễ dàng vào chỗ khan hiếm.

Về lâu dài thì nên quan niệm lại chiến lược phát triển để thoát dần tình trạng làm gia công cho thiên hạ vì xuất khẩu chưa tăng thì đã kinh tế đã bị lệ thuộc quá nặng vào nhập khẩu và thường xuyên bị giao động của giá cả quốc tế đánh thẳng vào túi tiền người dân. Chiến lược ấy gây bất công, đào sâu khoảng cách giàu nghèo mà hệ thống quản lý vĩ mô quá thô thiển không ứng phó được khi vật giá gia tăng vì bất cứ một nguyên nhân nào.

Ý kiến (0)

Xem tất cả ý kiến.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Xem toàn trang