Chế độ Buôn người

2007-11-27
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long, RFA

Năm 2007 sắp kết thúc đánh dấu 200 năm của một biến cố đáng chú ý, là đạo luật bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ của nước Anh. Vậy mà hai thế kỷ sau, kỹ nghệ buôn người vẫn đứng hàng thứ ba thế giới, sau buôn lậu ma túy và võ khí. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu vấn đề này trong cuộc trao đổi sau đây của Việt Long với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

HumanTraffickingReport200.jpg
Phúc trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về tình trạng buôn người trên thế giới.

Việt Long: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, năm 1807, Quốc hội Anh đã ban hành đạo luật cấm buôn bán nô lệ gọi là "Slave Trade Act". Đến nay thì việc buôn người vẫn là một lối làm ăn phát đạt, dù bất chính. Do đó, chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, chúng ta sẽ đề cập tới khía cạnh kinh tế của hiện tượng ấy. Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi, thưa ông, liệu người ta có tìm ra những định luật kinh tế giải thích hiện tượng đó hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Khi William Wilberforce, một người sùng đạo và có từ tâm của Đế quốc Anh đề xướng việc chấm dứt nạn buôn người nô lệ và vận động ra đạo luật Slave Trade Act mà ông nhắc tới, những thuyền trưởng bất lương bị bắt quả tang đang buôn người nô lệ trên Đại tây dương đã phi tang để tránh tội bằng cách quăng dân nô lệ xuống nước. Mãi cho tới năm 1833, tức là 26 năm sau, Đế quốc Anh mới có đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ, gọi là Slavery Abolition Act. Một tư tưởng lớn như vậy mà mất nhiều thập niên mới có kết quả, cho nên chúng ta không quá lạc quan về tính ác và máu tham của loài người.

Liên quan đến Việt Nam, khi Đế quốc Anh thấy ra điều sai trái của nạn buôn người và chế độ nô lệ thì cũng là lúc Nguyễn Du của chúng ta viết Truyện Kiều, trong đó, mấu chốt của câu chuyện vẫn là một vụ buôn người, một thiếu nữ 15 tuổi bị bán vào một ổ điếm! Ta vẫn biết rằng cốt truyện lấy từ một tác phẩm văn học tầm thường của Trung Hoa, và rằng mình không phê phán đời xưa với quy phạm luân lý xã hội của đời nay, nhưng trong hai trăm năm qua, dân ta đã thương xót hay phê phán nàng Kiều mà ít thấy ra hay nói ra sự tồi tệ của hệ thống luật pháp và tâm lý con người đã dung túng chế độ buôn người. Hậu quả là ngày nay, Việt Nam vẫn là quốc gia nổi tiếng với nạn buôn người.

Câu trả lời của tôi vì vậy là trước khi quy luật kinh tế có thể giải thích hiện tượng đó, thì mình cần nhìn ra phản ứng văn hoá tiềm ẩn bên dưới những quyết định kinh tế.

Việt Long: Xin lỗi, nhưng tôi e rằng sự ví von của ông có phần nào chưa cân xứng. Ví dụ như truyện Kiều liên hệ gì tới chế độ buôn người, tới quy luật kinh tế hay những tệ nạn xã hội ngày nay tại Việt Nam?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Từ 200 năm nay, tác phẩm văn chương trác tuyệt này được dân ta truyền đọc và ca tụng, mà ít ai thấy sự thối nát của một xã hội có "hai kinh vững vàng" thời Minh Gia Tĩnh. Ít ai nói tới nạn tham nhũng, xiết nợ, vu cáo người lành khiến một gia đình lương thiện phải bán con gái đi làm điếm. Sau này, gia đình ấy còn kết thông gia với tay cò tham nhũng là Chung công, ông bố vợ của cậu Vương quan! Giờ đây, nhiều gia đình cũng phải bán con, nhiều thiếu nữ phải bán mình làm tì thiếp cho người nước ngoài, coi đó là một thứ tai trời ách nước, mà cả xã hội không thấy rằng thế giới đã đổi thay và những điều ấy là phi pháp.

Cái nếp văn hoá an phận và khinh miệt phụ nữ ấy mới giải thích các động lực kinh tế ghê tởm bên dưới. Nhưng, tôi e rằng chúng ta lạc đề mất!

Việt Long: Thưa đúng thế, vậy để trở lại nạn buôn người ngày nay, trước khi tìm hiểu xem vấn đề nó nằm ở đâu, ông cho rằng ở Việt Nam thì những biểu hiện gì là đáng chú ý?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trừ có nạn bắt trẻ em đi làm du kích đã chấm dứt, thì Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người. Phổ thông nhất là hiện tượng cưỡng bách trẻ vị thành niên, cả trai lẫn gái đi vào kỹ nghệ tình dục, bán dâm. Khi xã hội mở cửa và bước vào toàn cầu hóa thì kỹ nghệ bán dâm và ép người bán dâm cũng đã được quốc tế hoá.

HumanTraffickingConfCali200.jpg
Cộng đồng người Việt Hải ngoại tổ chức hội nghị về chống nạn buôn người ở Việt Nam. RFA file photo.

Việt Nam xuất khẩu nhiều loại lao động cưỡng bách đó, dưới dạng cô dâu hay là con nuôi. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã nhập vào dòng khai thác lao động bất chính qua việc lường gạt, xiết nợ và thậm chí bạo động để ép người khác làm những loại việc họ không muốn.

Việt Long: Xin lỗi phải ngắt lời ông, nhưng tôi e rằng sự khẳng định như vừa rồi nghe ra cũng hơi ép uổng. Lấy cơ sở nào để xác định như vậy? Tôi cho là khó lòng mà nói rằng vịêc Việt Nam cho kết hôn và cho nhận con nuôi là để phụ nữ và trẻ em đi mãi dâm! Ông chứng minh được điều đó hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trong phúc trình năm nay của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình buôn người trên thế giới, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia vừa là xuất xứ vừa là điểm tụ của nạn buôn người, cả nam, nữ lẫn trẻ em cho hai mục tiêu là mại dâm và cưỡng bách lao động.

Phụ nữ và con gái Việt Nam bị buôn qua Cambốt, Trung Quốc, Thái Lan, Hong Kong, Macao, Malaysia, Đài Loan và qua cả Anh quốc lẫn Cộng hoà Tiệp. Bọn buôn người đã ngụy trang nạn nhân thành du khách hay dân lao động trong khuôn khổ xuất cảng lao công để đưa họ qua Hong Kong, Đài Loan hay Malaysia. Thậm chí họ còn tuyển mộ phụ nữ qua các công ty tìm việc và bán nạn nhân cho các băng đảng tội ác tại Trung Quốc hay Malaysia, thậm chí còn dùng các chat room trên Internet để khuyến dụ nạn nhân.

Cũng qua phúc trình của bộ Ngoại giao đã đệ nạp Quốc hội Mỹ hồi tháng Bảy vừa rồi, người ta được biết là nhiều phụ nữ Việt Nam được mai mối qua hôn nhân với người nước ngoài thực tế đã bị buôn hoặc bị khai thác. Trong năm ngoái, toà án Việt Nam đã xét xử 700 trường hợp buôn người, liên hệ tới 1.700 nạn nhân trong đó có 200 thiếu nhi. Những trường hợp như vậy chỉ là mặt nổi đã được công khai hoá mà thôi.

Việt Long: Nếu vậy thì cho đến nay, Việt Nam đã làm những gì để ngăn ngừa tình trạng ấy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thế giới đã báo động và vận động hợp tác giữa các nước để ngăn ngừa tệ nạn ấy và vì vậy, Việt Nam cũng có cố gắng cải sửa, nhưng vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư của Liên hiệp quốc năm 2000 về nạn buôn người, và Đạo luật về Xuất khẩu Lao động của Việt Nam ban hành cuối năm ngoái cho đến nay vẫn chưa đi vào áp dụng. Theo danh mục của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong báo cáo thường niên về nạn buôn người thì Việt Nam được xếp loại hai, các quốc gia chưa chấp hành những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ nạn nhân hiện tượng buôn người.

Dĩ nhiên,Việt Nam không là duy nhất hay tệ nhất so với nhiều xứ khác. Nhưng nói chung thì dư luận vẫn chưa để ý đến hiện tượng đau lòng này, ngoài một vài tuyên bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hay của Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Việt Long: Trước khi nói đến các khía cạnh văn hoá rồi kinh tế, xin hỏi ông là thế giới đã chú ý tới vấn đề này như thế nào - trước hết là về mặt pháp chế?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Từ gần 10 năm nay, thế giới đặc biệt quan tâm đến nạn buôn người. Nói đến nạn buôn người, thế giới tố giác một chuỗi hoạt động, từ tuyển mộ hay chiêu dụ tới vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, tiếp nhận và phân phối những người bị đẩy vào thị trường phi pháp và bất chính như khai thác tình dục, bóc lột sức lao động.

Ta nên phân biệt nạn buôn người, có khác với nạn chuyển người nhập lậu, thí dụ như di dân bất hợp pháp. Di dân nhập lậu trả tiền cho bọn bất lương giúp mình vượt biên và tới nơi là được hạ phóng để sống trà trộn trong cộng đồng di dân. Nạn buôn người lại tệ hơn vậy vì từ xuất xứ tới nơi tiếp nhận và làm việc, người bị buôn như nô lệ hoàn toàn nằm dưới sự khai thác của hệ thống bất lương, kể cả làm đầy tớ hay làm điếm.

Tổ chức Lao động Quốc tế ILO của Liên hiệp quốc cho biết thế giới đang có hơn 12 triệu người, kể cả thiếu nhi, bị cưỡng bách lao động, lao động để trả nợ, hoặc bị khai thác trong kỹ nghệ bán dâm. Nhiều tổ chức khác ước lượng là con số nạn nhân có thể lên tới 27 triệu người, lớn nhỏ, trai gái. Vì hiện tượng phổ biến đó, Liên hiệp quốc và nhiều quốc gia hay các cơ quan ngoài chính phủ đã vận động sự hợp tác quốc tế để bài trừ, chủ yếu là tại ba khâu chính là quốc gia xuất phát, quốc gia tiếp nhận và các tổ chức tội ác.

Việt Long: Vậy thì vì sao mà vào đầu thế kỷ 21 này, thế giới vẫn còn hiện tượng bất thường đó?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa ông, người ta có thể kể ra hàng chục lý do. Trước hết, hiện tượng toàn cầu hoá và thông tin lẫn việc chuyển vận dễ dàng hơn khiến người ta thấy ra nhiều cơ hội cải tiến cuộc sống ở nơi khác. Thứ hai, chênh lệch về mức sống hay tự do hoặc chế độ phân biệt đối xử của xã hội cũng khiến nhiều người muốn thoát ly và bị sa vào bẫy.

Thứ ba, chiến tranh và bất ổn xã hội khiến nhiều người bị xiêu tán và cố tìm một cuộc sống khá hơn ở nơi khác nên dễ thành nạn nhân của mạng lưới buôn người. Ngoài chiến tranh và sự sụp đổ của khối Xô viết hay nội chiến tại Nam Tư, một số biến cố cũng có thể khiến con người bị đánh bật gốc và rơi vào tình trạng bị buôn như nô lệ là nhiều dự án kinh tế đã giãn dân trên một quy mô lớn mà không có kế hoạch tái định cư.

Theo một phúc trình của Hoa Kỳ, hàng năm có chừng 80 vạn người bị buôn qua biên giới, 80% là phụ nữ, 50% là trẻ vị thành niên. Đa số nạn nhân là từ các nước Cộng sản cũ và các nước Á châu nghèo, bị buôn đi phục vụ các nước giàu có hơn.

Việt Long: Đó là những chuyển động lớn về kinh tế hay chính trị, ngoài ra ông còn thấy những lý do nào khác chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Ngần ấy lý do đều không thể dẫn tới một làn sóng buôn người rất lớn như hiện nay nếu thiếu ba yếu tố quan trọng, là nạn tham ô trong chính quyền, sự hoành hành của tổ chức bất lương và thái độ thụ động của xã hội, kể cả luật pháp. Nguyên do chính là con người ta, từ chính quyền tới báo chí và các tổ chức thiện nguyện, thường coi phụ nữ bán dâm là có tội hơn là những kẻ bất lương đã đẩy họ vào chốn đó.

Như khi thấy phụ nữ Việt Nam bị bán qua Đài Loan hay Đại Hàn làm nô lệ tình dục hay lao nô, xã hội thường nghĩ ngay là vì họ tham tiền mà quên hẳn tội ác của bọn bất lương và cán bộ hữu trách. Theo cuộc khảo sát của bộ Ngoại giao Mỹ, tới 80% nạn nhân là những người muốn thoát khỏi nghề bán dâm mà không được. Đây là lý do vì sao ta nói tới khía cạnh văn hoá qua cách đọc Truyện Kiều khi nhiều người dửng dưng với thằng bán tơ, kẻ lại già và các nhân vật như Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà và lại nặng lời phê phán nạn nhân là Thúy Kiều!

Một người nổi tiếng nghiêm khắc ở lời phê phán nàng Kiều là cụ Nguyễn Công Trứ, một khách chơi rất hào hoa trong chốn ca lâu đó. Nếp văn hoá ấy mới giải thích những quy luật kinh tế bên dưới.

Việt Long: Những quy luật kinh tế trong hiện tượng buôn người là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ là có ba quy luật khả dĩ giải thích được tình trạng đó.

Thứ nhất là quy luật tạm gọi là "ảnh hưởng của ngoại cảnh”, nôm na là những xáo trộn trong môi trường sinh sống ở chung quanh khiến mức sống và nhân phẩm bị phá giá và nhiều gia đình bị đẩy vào chỗ phải có những chọn lựa đau lòng. Khi quá nhiều người phải bán con bán cái thì những người chung quanh hết thấy rằng việc đó là xấu nữa. Lợi ích kinh tế xoay chuyển ngược chiều với tiêu chuẩn về đạo lý xã hội vì ngoại cảnh. Và đây là một trách nhiệm lớn của chính quyền trong địa hạt quản lý kinh tế vĩ mô. Sau một trận lũ lụt chẳng hạn, hãy kiểm tra xem nạn bán dâm và buôn người có thể gia tăng ra sao.

Thứ hai là quy luật thông tin bất cân đối. Chúng ta đều biết rằng người bán ít lầm, người mua mới lầm. Người mua ở đây là những người cùng khốn muốn thoát khỏi nghịch cảnh và đành chấp nhận rủi ro và bị bắt bí. Sở dĩ họ bị bắt bí là vì ở vào thế yếu và không có thông tin rõ ràng về quyền hạn của mình, trước tiên là về nhân quyền, một vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam. Thứ nữa là những kẻ bán dịch vụ lao động theo kiểu bất lương đó lại biết rõ mục tiêu, môi trường và đối tác ở nước ngoài nên có lợi thế lường gạt người mua.

Việt Nam đang bán sức lao động tới các nước xa xôi như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia, Saudi Arabia và nhiều xứ Trung Đông khác, nhưng Luật Xuất khẩu Lao động chưa áp dụng và chính sách kiểm soát lỏng lẻo càng đào sâu chênh lệch về loại thông tin của thị trường quái gở này, và tạo cơ hội cho bọn bất lương tung hoành.

Việt Long: Còn quy luật thứ ba là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thứ ba là một quy luật khá phổ biến từ kinh nghiệm của ngành bảo hiểm ra, đó là nạn ỷ thế làm liều, mà thuật ngữ kinh tế gọi là "moral hazard". Đó là những kẻ nghĩ mình có gốc lớn hay quan hệ tốt với chính quyền hay cán bộ nhà nước khả dĩ kinh doanh có lời và không bị rủi ro trong những ngành nghề họ biết là bất chính.

Thí dụ như trong một đường dây buôn người có sự đỡ đầu của một quan chức cao cấp hay thân tộc của một đồng chí lãnh đạo thì bọn bất lương vẫn yên tâm làm bậy. Họ biết rằng dứt dây thì động rừng, cho nên vì thể thống của chế độ, việc sai quấy của họ cũng sẽ khó bị tố giác hay chấm dứt. Mối lợi của việc sai quấy đó mà được phân chia sòng phẳng thì mọi việc vẫn trót lọt. Và nhiều xứ giàu có cũng đáng quy trách khi không có nỗ lực trừng phạt bọn bất lương đó.

Việt Long: Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam có hy vọng gì thoát khỏi tình trạng tệ hại này chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng sẽ có, dù rất chậm và cần tới phản ứng của dư luận. Một thí dụ là nạn buôn phụ nữ dưới dạng hôn nhân giả đã giảm đáng kể với Đài Loan vì chính quyền xứ này có luật lệ kiểm soát khắt khe hơn. Ngược lại, trong năm năm qua, số cô dâu Việt Nam được bán qua Nam Hàn đã tăng gấp đôi. Khi bắt đầu hội nhập với thế giới bên ngoài thì luật lệ của quốc tế và của các nước khác liên hệ tới nạn buôn người cũng khiến Việt Nam phải tuân thủ mà thay đổi dần.

Điều đáng buồn là Việt Nam chỉ biết tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của công dân mình khi có sức ép của ngoại quốc. Đây là một nỗi nhục mà dân mình nên nhìn ra, và có phản ứng, thay vì cứ thụ động trước sự bất lực hay bất lương của những người có trách nhiệm./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang