Cải tổ và phát triển kỹ nghệ điện lực tại Việt Nam


2007.02.15
Share on WhatsApp
Share on WhatsApp

Giáo sư Nguyễn Quốc Khải

Kỹ nghệ điện lực của Việt-Nam thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua do nhu cầu về điện gia tăng rất nhanh, sự chuyển biến từ chế độ kinh tế chỉ huy sang chế độ thị trường và do sự hội nhập vào thị trường thế giới.

ElectricPower150.jpg
AFP PHOTO

Việt-Nam đã thực hiện nhiều dự án điện lực nói riêng và năng lượng nói chung, nhưng sự thử thách quá to lớn và chính sách kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho việc cải tổ kỹ nghệ điện lực tiến hành chậm và làm cản trở sự phát triển.

I. Tình trạng hiện nay của kỹ nghệ điện lực

Việt-Nam có dầu hỏa và hơi đốt ở ngoài biển miền Nam, than đá ở ngoài Bắc, và thuỷ lực tại vùng núi phía Tây chạy dài từ Bắc vào Nam. Số lượng tài nguyên này không nhiều mà chỉ tạm đủ để dùng cho nhu cầu trong nước. Hiện nay Việt-Nam xuất cảng một số lượng than đá và hầu hết số lượng dầu thô khai thác vì chưa có xưởng lọc dầu. Trị giá năng lượng xuất cảng nhiều hơn trị giá năng lượng nhập cảng.

Với nguồn nước ở cả ba vùng, thủy điện trở thành nguồn nhiên liệu chính của Việt-Nam từ cuối thập niên 1980 cho đến mới đây. Sau đó Việt-Nam sản xuất thêm nhiệt điện từ than đá ở miền Bắc, hơi đốt thiên nhiên, và một số lượng dầu hỏa ở miền Nam kể từ cuối thập niên 1990. Khả năng sản xuất tổng cộng là 11,200 MW vào năm 2004.

Kỹ nghệ năng lượng của Việt-Nam tương đối thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu nội địa trong thập niên vừa qua. Tuy nhiên Việt-Nam từng trải qua những trường hợp mất điện trong thời gian ngắn và thiếu điện như vào mùa hè 2005.

Vào năm 1995, mức tiêu thụ điện của Việt-Nam trung bình vào khoảng 156 KWh cho mỗi người hàng năm. Trong thời gian 1996-2004, mức tiêu thụ tăng gấp ba lần, lên đến 484 KWh. Tuy nhiên so với mức tiêu thụ 1,265 KWh tại những nước có lợi tức thấp và trung bình trên thế giới, mức tiêu thụ điện của Việt-Nam rất thấp.

Kỹ nghệ năng lượng của Việt-Nam tương đối thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu nội địa trong thập niên vừa qua. Tuy nhiên Việt-Nam từng trải qua những trường hợp mất điện trong thời gian ngắn và thiếu điện như vào mùa hè 2005.

Việt-Nam ngày càng kỹ nghệ hoá khiến cho nhu cầu tiêu thụ điện càng tăng. Dân cư cũng dùng nhiều điện hơn vì nhiều yếu tố. Trước hết là chương trình điện hóa nông thôn đã mang điện đến cho thêm 30 triệu người dân, tương đương với 37% của dân số trong khoảng thời gian 1995-2004. Yếu tố thứ hai là kinh tế phá triển, lợi tức gia tăng khiến một số gia đình có khả năng mua sắm máy móc gia dụng chạy điện.

Giá điện lẻ ở Việt-Nam là 800 đồng / KWh (US5.1 cents / KWh) vào năm 2004. Nếu kể cả thuế giá trị thặng dư (value-added tax - VAT) 10%, giá điện lẻ trung bình sẽ là US5.6 cents / KWh, khá thấp so với với phần đông các nước khác. Ngay cả giá điện trung bình áp dụng cho công nghệ là US5.4 – 6.2 cents, kể cả VAT cũng không cao so với tiêu chuẩn quốc tế. Thí dụ, giá điện ở Trung Quốc là US 7-10 cents / KWh tại các vùng duyên hải, và US12 cents / KWh tại những khu chế xuất.

II. Cải tổ kỹ nghệ điện lực

Kỹ nghệ năng lượng cho đến vài năm gần đây hầu như hoàn toàn do các công ty quốc doanh bao thầu. Kể từ 1995, kỹ nghệ năng lượng do ba tổng công ty lớn nhất của Việt-Nam quản trị. Đó là Tập Đoàn Điện Lực Việt-Nam (Electricity of Vietnam – EVN), Tập Đoàn Dầu Khí Việt-Nam (PetroVietnam), và Tập Đoàn Công Nghiệp Than – Khoáng Sản Việt-Nam (Vinacomin) theo mô hình chaebol của Nam Hàn.

Kể từ khi Luật Điện Lực được ban hành vào năm 2004, Việt-Nam bắt đầu cải tổ khu vực điện lực. Tuy độc lập mấy năm gần đây với nhà nước về phương diện tài chánh, ĐLVN vẫn phụ thuộc vào nhà nước về mọi kế hoạch sản xuất, phát triển, đầu tư và giá cả.

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng gia tăng, Việt-Nam cần thêm nhiều vốn để tăng công suất, Việt-Nam cho phép thành lập một số những nhà máy sản xuất điện lực đứng ngoài hệ thống ĐLVN, hoàn toàn do tư nhân nội địa hoặc ngoại quốc làm chủ hay với sự đóng góp cổ phần của ĐLVN.

Tại hầu hết các vùng ở nông thôn, cộng đồng địa phương làm chủ và điều hành những nhà máy sản xuất điện lực nhỏ với áp điện thấp. Ngoài ra, ĐLVN giải tư và cổ phần hoá một phần bằng cách tách một số bộ phận và nhà máy hiện hữu thành những công ty sản xuất điện lực độc lập (independent power producers – IPP). Tuy nhiên ĐLVN vẫn được phép duy trì ít nhất 51% cổ phần tại những công ty “độc lập” này theo chính sách của nhà nước hiện nay.

Do đó biện pháp cải tổ kỹ nghệ điện lực là phải hủy bỏ hệ thống hàng dọc hiện nay của ngành này và thay thế bằng một thị trường điện lực cạnh tranh thực sự. Do áp lực của nhà nước và việc Việt-Nam gia nhập WTO, ĐLVN đã phải cổ phần hóa và đồng thời sát nhập hai nhà máy thuỷ điện nhỏ Song Hinh và Vĩnh Sơn thành một công ty vào năm 2005. Ngoài ra công ty phân phối điện Khánh Hòa và Nhà máy Phả Lại của ĐLVN cũng được bán cho tư nhân kể cả những nhà đầu tư ngoại quốc vào năm 2005.

ĐLVN còn có kế hoạch cổ phần hóa tất cả những nhà máy điện lực hiện hữu ngoại trừ những nhà máy thuỷ điện lớn trong vòng 2 năm tới. Bộ Công Nghiệp Mới đây tuyên bố Việt-Nam sẽ tư nhân hóa tất cả những công ty phân phối điện trong 2006-2007, kể cả những công ty nhỏ tại 64 tỉnh mà phần lớn thuộc quyền sở hữu của ĐLVN.

Theo ước tính của Việt-Nam, nhu cầu về điện lực của Việt-Nam sẽ gia tăng 16% mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010, 11% trong những năm 2011-2015 và 9.1% trong 2016-2020.

Những nhà máy sản xuất nhiệt điện cũng sẽ chuyển giao cho các nhà đầu tư tư nhân. Tuy nhiên nhà nước sẽ tiếp tục độc quyền về hệ thống truyền điện (power transmission) và điều hành luật lệ liên quan hệ thống phân phối điện trên toàn quốc.

III. Kế hoạch phát triển kỹ nghệ điện lực

Một trong những giải pháp để giải quyết tạm thời nhanh chóng việc thiếu hụt điện là dùng những máy sản xuất điện nhỏ chạy bằng dầu hỏa hoặc hơi đốt. Những máy này có thể thiết kế nhanh chóng. Việt-Nam dự trù xây thêm tại miền Bắc 4 đơn vị chạy bằng dầu hỏa, mỗi đơn vị có thể sản xuất 37 MW và một số máy lớn hơn chạy bằng dầu hỏa hoặc hơi đốt ở miền Nam.

Giải pháp thứ hai là mua điện của Trung Quốc. Điều này hầu như chắc chắn sẽ gia tăng trong những năm sắp đến. Trong năm 2005, Việt-Nam đã thương thuyết với Trung Quốc để có thể tăng số lượng điện mua của Trung Quốc lên đến 400 MW trong những năm sắp đến.

Về mặt tiêu thụ, những chuyên viên điện lực cho rằng Việt-Nam có triển vọng giảm bớt mức tiêu thụ điện được khoảng 600-800 MW trong vài năm tới chỉ bằng cách giảm thiểu sự lãng phí, tăng cường hiệu năng sử dụng nhiên liệu. Theo ước tính của Việt-Nam, nhu cầu về điện lực của Việt-Nam sẽ gia tăng 16% mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010, 11% trong những năm 2011-2015 và 9.1% trong 2016-2020.

Việc xây dựng thêm nhà máy thủy điện là giải pháp ít tốn kém nhất. Giải pháp tương đối nhanh chóng là phát triển những tài nguyên thủu điện sẵn có. Để gia tăng công suất từ 11,200 MW lên đến 81,000 MW, ĐLVN dự trù xây thêm 74 nhà máy phát điện từ nay cho đến năm 2020 bao gồm 48 nhà máy thủy điện, 17 nhà máy nhiệt điện chạy bằng than đá, năm nhà máy chạy bằng dầu khí, và hai nhà máy chạy bằng năng lượng hạt nhân với kinh phí là 109 tỉ Mỹ kim. Trong khi đó ĐLVN chỉ đủ khả năng cung cấp một nửa số vốn cần thiết.

Với giá than đá nội địa hiện nay, sản xuất điện bằng than nội địa sẽ giảm được phí tổn. Tuy nhiên nếu dùng than đá nhập cảng, chi phí sản xuất điện sẽ cao hơn một cách đáng kể. Hiện nay Việt-Nam dựa vào thủy điện, nhất là tại miền Bắc. Nhưng thủy điện không đáng tin cậy vì cần nước trong khi đó Việt-Nam thỉnh thoảng vẫn bị hạn hán kéo dài làm nhà máy thiếu nước. Ngoài ra nhà máy thủy điện còn chịu rủi ro về động đất, khủng bố và các tai nạn khác.

Nhà máy điện lực nguyên tử đầu tiên với công suất là 2,000 MW trị giá khoảng 3 - 4 tỉ Mỹ kim. Nhà máy này lúc đầu dự trù hoàn tất vào năm 2015 và khởi sự sản xuất điện vào năm 2020. Với giá dầu tăng lên cao, sồ lượng than và dầu hỏa của Việt-Nam giới hạn và trở thành khan hiếm vào 25 năm tới, nên việc tìm một nhiên liêu thay thế như nguyên tử, gió và ánh sáng mặt trời để sản xuất điện lực là cần thiết. Theo dự án, điện lực nguyên tử sẽ chiếm khoảng 11% vào năm 2020 và 25-30% vào 2040-2050.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Xem toàn trang