Indonesia: Trợ giá và Khủng bố

2005-10-04
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

Cuối tuần qua, chính quyền Indonesia vừa quyết định nâng giá xăng dầu thì hơn 19 tiếng sau, quân khủng bố đã đồng loạt tấn công trung tâm du lịch Bali của xứ này. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hậu quả của hai biến cố dồn dập này qua phần trao đổi sau đây của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, kỳ này chúng ta sẽ trao đổi về tình hình Indonesia mà ông theo dõi từ lâu, đó là việc chính phủ Jakarta vừa quyết định nâng giá xăng dầu, bình quân lên gần 88%, thì trung tâm du lịch Bali của họ lại bị khủng bố tấn công, gây tử vong cho 26 người, làm hơn trăm người bị thương, theo tin đến ngày Thứ Hai. Ông nghĩ sao về hai biến cố này?

Đáp: Thưa vâng, ta có thể nhìn thấy sự trùng hợp về thời điểm giữa chuyện xăng dầu và khủng bố là dịp lễ Ramadan của đạo Hồi, sẽ kéo dài một tháng, kể từ Thứ Ba mùng bốn tháng Mười. Chính phủ vừa công bố quyết định tăng giá xăng dầu từ không giờ Thứ Bảy mùng một, thì chiều hôm đó quân khủng bố ra tay, vào lúc 7:40 rồi 7:41 rồi 7:45.

Lối tấn công dồn dập ấy có dấu ấn của al-Qaeda hay nhóm Jemaah Islamiah liên hệ với họ tại Đông Nam Á, là nhóm đã ra tay ngày 12 tháng 10 năm 2002 tại Bali khiến 202 người chết, rồi ngày năm tháng Tám năm 2003 nhắm vào khách sạn Marriot tại Jakarta, ngày chín tháng Chín năm 2004 nhắm vào tòa Đại sứ Australia cũng tại Jakarta.

Ta có thể thấy ra chu kỳ chuẩn bị mất chừng một năm cho mỗi vụ, nhưng có lẽ với sức tàn phá ít hơn dù đã dùng tới đòn tự sát. Phải chăng vì hiệu năng của khủng bố cũng sút giảm? Đấy là chỉ dấu khiến ta có thể lạc quan đôi chút, nhưng dù sao thời điểm của vụ Bali lần hai này cũng tai hại cho nền kinh tế Indonesia về nhiều mặt.

Hỏi: Giới quan sát kinh tế quốc tế có nói nhiều đến hậu quả tai hại cho nền kinh tế, thí dụ như số thu về du lịch vì Bali là một trung tâm du lịch lớn ở trong vùng. Ông kiểm điểm ra sao về những tổn thất kinh tế trong vụ khủng bố này?

Đáp: Du lịch đem lại chừng 5% tổng sản lượng Indonesia. Sau vụ Bali bị tấn công năm 2002, số du khách sụt gần 6%, năm ngoái vừa tăng lại được hơn 3% thì tới cuối năm, nạn sóng thần và bão lụt tại tỉnh Aceh lại gây tổn thất nữa về mặt tâm lý vì làm du khách quốc tế e ngại.

Dù sao thiệt hại nếu có chỉ thu hẹp trong khu vực này thôi. Sau các đợt tai họa ấy, thị trường chứng khoán đã sớm phục hồi. Đáng lo ngại hơn chính là tâm lý của giới đầu tư, và nhất là giới đầu tư trong một lãnh vực sinh tử vì rất cần cho Indonesia là dầu khí.

Hỏi: Và chúng ta trở lại đề mục chính là chuyện xăng dầu của xứ này. Vì sao Indonesia lại quyết định nâng giá xăng dầu, khi chúng ta nhớ rằng cũng quyết định ấy đã châm ngòi cho những biến động xã hội rồi chính trị khiến chế độ Suharto đã sụp đổ năm 1998?

Đáp: Chúng ta sẽ tìm hiểu về chuyện xăng dầu trước, chuyện chính trị sau, rồi mình mới nói đến quyết định tăng giá của chính phủ Jakarta. Về bối cảnh, Indonesia là quốc gia sản xuất dầu thô, có chân trong tổ chức các xứ xuất khẩu OPEC, mà vẫn phải nhập khẩu xăng dầu.

Khi đối chiếu số thu nhờ bán dầu và số chi để mua xăng thì như Việt Nam, Indonesia là xứ thuần chi, chi nhiều hơn thu, vì kỹ nghệ lọc dầu để chế biến dầu thô thành xăng dầu không đủ cung cấp cho yêu cầu.

Đã vậy và như nhiều xứ khác, Việt Nam, Thái Lan và Malaysia chẳng hạn, Indonesia còn trợ giá để giới tiêu thụ mua xăng dầu rẻ hơn giá thị trường. Thực tế thì dân Indonesia mua xăng dầu với giá thuộc loại rẻ nhất thế giới mà cứ coi đấy là đương nhiên. Khi giá dầu thô tăng, và tăng đều, thì hóa đơn trợ giá, tám tỷ trong số chín tỷ trợ giá mọi loại, gây bội chi ngân sách nên chính phủ phải bớt trợ giá. Nhìn từ giới tiêu thụ thì đấy là tăng giá.

Hỏi: Nhưng, đi trước Việt Nam rất sớm, vì sao Indonesia lại để xảy ra tình trạng nan giải ấy?

Đáp: Họ có ba loại vấn đề khá phức tạp mà trợ giá chỉ là một. Đây cũng là loại vấn đề Việt Nam đang xử lý không khác. Trong các nguồn năng lượng phổ biến, ta có dầu, khí đốt và than đá. Chính sách năng lượng Indonesia chú ý đến dầu mà lãng quên hai loại kia. Mà xăng dầu càng được trợ giá thì giới tiêu thụ càng không thấy nhu cầu phải tiết kiệm hoặc tìm ra nhiên liệu thay thế.

Thứ hai, chính sách năng lượng đã lệch lạc, xứ này lại không đầu tư để tìm ra giếng dầu mới mà chỉ cố vét những giếng dầu đã khai thác vì vậy mới bán dầu ra ít hơn xưa, sụt 2,5% năm ngoái và bắt đầu bị thuần chi.

Kết hợp hai vấn đề ấy là khi số cầu về dầu cứ tăng, làm Indonesia bị thuần chi về dầu mà vẫn được thuần thu về khí đốt, thì ta thấy ra vấn đề thứ ba, là xứ này không đủ khả năng lọc dầu cho yêu cầu nội địa.

Hỏi: Đã nói đến loại vấn đề ấy, theo ông, xứ này có giải pháp gì để ứng phó chăng?

Đáp: Thưa có, về trước mắt và trong lâu dài. Biện pháp cắt giảm trợ cấp xăng dầu là tất yếu dù có gây rủi ro cho chế độ, nhưng chỉ có hiệu quả trong vài ba năm thôi, nếu như chính quyền tồn tại.

Về dài, xứ này phải hoạch định lại chính sách năng lượng để thứ nhất, có nhiên liệu điền thế, thí dụ khí lỏng hay than đá như Việt Nam đã có mà chưa để ý khai thác; thứ nhì, gia tăng khả năng chế biến dầu thô và khí đốt cho kịp với nhu cầu nội địa; và thứ ba là đầu tư hầu tìm thêm giếng dầu thô và khí đốt mới.

Đấy là loại việc chỉ hiệu quả trong nhiều năm nhưng phải khởi sự nghiên cứu và thực hiện ngay, là việc mà cơ chế về kế hoạch phải chú ý để sớm huy động được đầu tư quốc tế. Nhìn xa hơn về hướng Bắc, cùng hôm mùng hai, ta thấy liên doanh Mỹ, Nhật, Nga, Ấn bắt đầu khai thác dầu khí tại giếng Sakhaline 1 của Liên bang Nga ở Thái bình dương để bán ra ngoài, an toàn và hấp dẫn hơn nhiều.

Vì vậy, vụ khủng bố Bali có thể gây trở ngại cho nỗ lực huy động đầu tư vì quân khủng bố vừa muốn giết dân lành vừa muốn làm giới đầu tư Tây phương e sợ mà lánh xa, hầu chính quyền Jakarta càng dễ bị lật đổ.

Hỏi: Và có lẽ ông đang dẫn câu chuyện về lãnh vực chính trị, về sự tồn tại của chế độ?

Đáp: Sau khi chế độ Suharto cáo chung năm 1998, Indonesia đã trải nhiều năm khủng hoảng và ba đời tổng thống là hai ông Habibie, Wahid rồi bà Megawati Sukarnoputri. Trong các năm ấy, tình hình đầu tư sa sút nặng vì các chế độ nối tiếp đều hoặc bị tê liệt hoặc tham nhũng. Tới tháng 10 năm ngoái, Tướng Yudhoyono thắng cử và đem lại hy vọng mới vì bản thân không bị tai tiếng về độc tai hay tham ô, lại khá quả cảm và thực tiễn, có một chính quyền am hiểu về kinh tế và có thực lực, thí dụ như Phó Tổng thống Yusuf Kalla lại là Chủ tịch đảng Golka, Tổng trưởng Kinh tế Aburizal Bakrie là tỷ phú có kinh nghiệm doanh trường và quản lý, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Burhanuddin Abdullah là chuyên gia từng phục vụ nhiều năm trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Vì vậy mà chính quyền Yudhoyono mới tiến hành hòa giải với sắc tộc Aceh và năm ngoái, sau vụ sóng thần, Câu lạc bộ Paris gồm 19 nước chủ nợ có ngỏ ý hoãn nợ cho Indonesia mà Jakarta dám từ chối và cố thi hành nghĩa vụ hoàn trái. Giờ đây, Indonesia có cơ hội hãn hữu để sớm thoát khỏi chu kỳ khủng hoảng.

Hỏi: Phải chăng là dựa trên cái thế ấy, ông Yudhoyono mới dám lấy quyết định đầy rủi ro là điều chỉnh giá xăng dầu?

Đáp: Tôi thiển nghĩ là Indonesia đã cân nhắc rủi ro rất kỹ khi loan báo trước là sẽ phải cắt giảm trợ giá, nâng giá xăng dầu một cách tiệm tiến, đồng thời cố gắng trợ cấp cho giới bình dân khỏi quá khốn đốn về việc điều chỉnh.

Trước đấy, họ đã có biện pháp nâng lãi suất và dự trữ pháp định để đồng rupiah khỏi mất giá. Những quyết định ấy là cần thiết và không thể tránh khỏi, và khiến các xứ khác trong khu vực cũng nín thở theo dõi…

Hỏi: Ông đang nói đến phản ứng của các xứ khác, cho đến nay, họ đã có những biện pháp gì?

Đáp: Ta không quên là cách đây một tháng, đồng rupiah và cổ phiếu Indonesia tuột giá đột ngột khi dân chúng xuống đường biểu tình vì tin nâng giá xăng dầu. Khi ấy, Nhật Bản và Nam Hàn đã đề nghị một tín khoản sáu tỷ Mỹ kim cho Jakarta có thể trích xuất hầu giữ giá đồng bạc.

Bóng ma của vụ khủng hoảng 1997-1998 ám ảnh mọi người, lần đó khủng hoảng bùng nổ tại Thái trước khi lan qua xứ khác. Indonesia không giao dịch với Đông Á nhiều bằng Thái Lan nên nguy cơ khủng hoảng từ xứ này qua xứ khác không nặng bằng, nhưng hai xứ Đông Bắc Á vẫn chủ động can thiệp.

Số tiền sáu tỷ đó không nhiều, nhưng có thể là thử nghiệm xem các xứ Á châu có cứu được nhau chăng, và khi cần thì nên giải quyết thủ tục cứu trợ tài chính đó ra sao. Đấy là thí dụ đáng chú ý vì cả hai nước Nhật Bản và Nam Hàn đang duyệt lại chính sách đầu tư để tham gia tích cực hơn vào Việt Nam, kể cả và nhất là thị trường dầu khí.

Hỏi: Ông hay quy vào trường hợp Việt Nam, thế Việt Nam rút tỉa được bài học gì từ chuyện xăng dầu này?

Đáp: Tất nhiên là giới hữu trách có biết và biết sợ nên trong năm nay đã ba lần tăng giá xăng dầu và chuẩn bị dư luận là sẽ còn tăng nữa, đồng thời cũng vừa nâng mức lương tối thiểu cho công chức, thành phần có đồng lương cố định và sẽ bị thiệt nhất khi vật giá và lạm phát gia tăng.

Nếu có một bài học về cách ứng xử, có lẽ Việt Nam nên chú ý đến trường hợp của Thái Lan. Họ quyết định chấm dứt trợ cấp xăng dầu từ ngày 13 tháng Bảy vừa rồi, để thả nổi giá cả hầu thứ nhất dân chúng có ý thức tiết kiệm tiêu thụ hơn và thứ hai, tìm nguồn nhiên liệu thay thế. Nhờ đó mà số tiêu thụ đã lập tức sút giảm. Tuy nhiên, họ cũng sợ liều thuốc này quá công phạt nên tăng tương tối thiểu và lương công chức đồng thời bơm tiền vào các dự án tại nông thôn để nâng cao lợi tức thành phần dân chúng nghèo khổ nhất.

Nói cho cùng, Thái Lan có thể làm mạnh vì tình hình chi thu ngân sách có khả quan hơn, trong khi cả Indonesia lẫn Việt Nam đều bị bội chi ngân sách tới gần 2% tổng sản lượng GDP. Nhưng càng bị thâm hụt ngân sách thì người ta càng phải sớm rũ bỏ gánh nặng trợ cấp nếu không là sẽ bị khủng hoảng. Vấn đề là người dân có hiểu và chấp nhận điều ấy không, khi họ thấy đảng viên cán bộ tham ô cứ giàu xụ. Vì vậy, ta trở lại đề tài đã cũ, là niềm tin của người dân và tham nhũng của chế độ./.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang