Hội nghị quốc tế về Chất Da Cam Paris

2005-04-07
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Mai Thanh Truyết

Vào ngày 11 và 12 tháng 3 năm 2005, tại phòng họp Clémenceau, Paris thuộc Thượng viện Pháp đã diễn ra một Hội nghị Quốc tế về ảnh hưởng của các hóa chất khai quang ở Việt Nam (1961- 1971). Xin Tiến sĩ Mai Thanh Truyết cho biết thêm về Hội nghị nầy.

RanchHand_spraying150.jpg

Đáp: Thưa anh. Hội nghị đã được dự trù trước đây do Hội Thân hữu Pháp Việt đứng ra tổ chức và bảo trợ. Thuyết trình viên đã dược chọn lọc trước trong các nhân vật quen thuộc trong lãnh vực liên quan đến hóa chất khai quang trong chiến tranh Việt Nam trước đây.

Riêng về phía quan khách cũng được chọn lọc kỹ và phải có giấy mời tham dự. Trên danh sách, có khoảng 500 khách được mời, nhưng chỉ có độ 300 quan khách tham đự trong ngày đầu, và chỉ còn lại 130 trong ngày thứ hai cũng là ngày bế mạc hội nghị.

Cũng cần nên biết thêm là Hội nghị cũng đã được 34 nhân vật có tiếng tăm trong đó có GS Chu Phạm Ngọc Sơn, thuộc Đại học Khoa học Sàigòn trước đây, và 24 Hội đoàn “bè bạn” khắp năm châu bảo trợ.

Chương trình nghị sự

Hỏi: Về chương trình nghị sự như thế nào thưa Tiến sĩ?

Đáp: Ngay trong buổi khai mạc, Tiến sĩ Monique Chemillier Gendreau tuyên bố với phát biểu như sau: “Làm sao đấu tranh chống lại sự không hiểu biết”. Chương trình bắt đầu sau đó với các buổi thuyết trình xoay quanh các chủ đề:

Lịch sử chiến tranh hóa học với 2 đề tài về “Hoàn cảnh xử dụng vũ khí hóa học” do C.Fourniau (Pháp) và “Lời kể của chứng nhân” do Tiến sĩ Phan Thi Phi Phi, vừa là GS vừa là nạn nhân

1- Lịch sử chiến tranh hóa học với 2 đề tài về “Hoàn cảnh xử dụng vũ khí hóa học” do C.Fourniau (Pháp) và “Lời kể của chứng nhân” do Tiến sĩ Phan Thi Phi Phi, vừa là GS vừa là nạn nhân hiện diện trong vụ tranh tụng giữa Hội NNCĐDCVN và 37 công ty Hoá chất Hoa Kỳ tại tòa án Brooklyn ngày 28,2,2005. Tiến sĩ Phi Phi áp dụng phương pháp chuyện kể đường đời (recits de vie) để “truy tầm” nạn nhân chất da cam ở Việt Nam.

2- Chủ đề 2 là “Tình trạng vệ sinh và thống kê việc lây nhiễm” gồm 4 thuyết trình viên với các đề tài sau:

- Tình trạng các nơi bị nhiễm độc dioxin do BS Trần Xuân Thu với lời phát biểu độc đáo là không cần chứng minh sự hiện diện của dioxin trong máu cũng có thể kết luận được là nạn nhân của chất độc da cam;

- Nồng độ dioxin trong cơ thể con người, thực phẩm, và môi trường do BS Schecter, Dallas, HK;

- Thống kê lâm sàng về việc nghiên cứu lây nhiễm do BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giám đốc bịnh viện Từ Dũ đãm trách;

- Những khía cạnh khác như tâm lý, trị liệu do Tiến sĩ Doray, Pháp.

3- Chủ đề thứ 3 là “Ảnh hưởng lên hệ sinh thái và viễn ảnh cải thiện môi trường” gồm 2 đề tài:

- Ảnh hưởng lên hệ sinh thái và hậu quả do BS Võ Quý trình bày và;

- Các điểm nóng của sự lây lan, di sản ủa các căn cứ HK do Tiến sĩ Dewernychuk thuộc công ty Hatfield, Canada.

Qua ngày thứ hai, hội nghị bàn về Hậu quả kinh tế và xã hội cùng những khía cạnh pháp lý của vụ kiện, gồm 6 đề tài, trong đó có hai đề tài quan trọng là:

- Hậu quả xã hội do BS Nguyễn Trọng Nhân, Phó Chủ tịch Hội NNCĐDCViệt Nam và;

- Chất da cam và luật pháp quốc tế nhân đạo do Iagolnitzer, Pháp trình bày. Sau cùng, kết thúc là phần thảo luận và đúc kết với “Lời kêu gọi đến các quốc gia và cơ quan quốc tế” về tình trạng hiện có của 4,8 triệu nạn nhân ở Việt Nam.

Mục tiêu từ đầu của hội nghị nầy là cố gắng vận động dư luận quốc tế để yểm trợ và ủng hộ cho vụ kiện của Hội NNCĐDCViệt Nam, để từ đó có thể gây thêm áp lực tâm lý vào phán quyết của ông chánh án.

Phán quyết của Chánh án Jack Weinstein

Hỏi: Hội nghị đã diễn ra môt ngày sau khi phán quyết của ông chánh án Jack Weinstein ở Broolyn, NY. Tiến sĩ có thấy điều gì khác lạ và không bình thường hay không?

Đáp: Dạ có, thưa anh. Chúng tôi nghĩ mục tiêu từ đầu của hội nghị nầy là cố gắng vận động dư luận quốc tế để yểm trợ và ủng hộ cho vụ kiện của Hội NNCĐDCViệt Nam, để từ đó có thể gây thêm áp lực tâm lý vào phán quyết của ông chánh án.

Ngay trong buổi tranh tụng ngày 28-2-2005, ông có tuyên bố là sẽ đưa ra phán quyết trong vòng vài tuần tới. Chính vì lý do đó mà Việt Nam cố tăng cường sự vận động dư luận qua tham luận của ĐT Võ Nguyên Giáp, của Bà Nguyễn Thị Bình...trước khi hội nghị Paris khai mạc. Cùng mục đích trên, GS Phan Thị Phi Phi đã đi vận động ở các thành phố và đại học HK sau khi dự khán với tư cách nạn nhân trong vụ tranh tụng trước khi qua Paris phó hội.

Nhưng ông chánh án đã công bố vào ngày 10-3-2005 tuyên bố hủy bỏ cuộc tranh tụng bằng một phán quyết dài 233 trang, trong đó phần kết luận chỉ vỏn vẹn như sau: “Sự khiếu tố của các nguyên đơn là vô căn cứ chiếu theo luật bản xứ của bất cứ quốc gia hay tiểu bang nào hoặc bất cứ dạng thức nào của luật quốc tế. Nội vụ bị bác bỏ. Không bên nào được bồi thường án phí và thù lao cho luật sư. Nay ra lệnh. Ký tên.: Jack B. Weisnstein”.

Phán quyết đã xảy r a sớm hơn dụ trù, do đó hội nghị quốc tế nầy đã diễn ra trong gượng gạo và không còn tính hàohứng mà Việt Nam đã dự tính và mong đợi.

Những dự kiện mới

Hỏi: Qua nội dung trong 2 ngày hội nghị mà Tiến sĩ vừa trình bày ở phần trên, Tiến sĩ có thấy thêm dữ kiện hay thông tin nào mới lạ cần nêu ra hay không?

Đáp: Thưa anh. Quả thật tất cả các đề tài thảo luận trong hai ngày Hội nghị đã được Việt Nam và một số khoa học gia bè bạn công bố từ nhiều năm qua. Chúng tôi nhận thấy không có thêm khám phá nào mới lạ mà chỉ là những lập luận theo chiều hướng thuận lợi cho quan điểm của Việt Nam trong vấn đề nầy mà không trưng dẫn các bằng cớ khoa học có tính cách thuyết phục.

Báo cáo Hatfield do Tiến sĩ Dwernychuk trong nghiên cứu mức nhiễm độc chất da cam lên con người và thực phẩm ở A Lưới và A Sho phối hợp cùng với Ủy ban 10/80 của Việt Nam đã được chúng tôi đưa ra nhiều phản biện.

Báo cáo Hatfield do Tiến sĩ Dwernychuk trong nghiên cứu mức nhiễm độc chất da cam lên con người và thực phẩm ở A Lưới và A Sho phối hợp cùng với Ủy ban 10/80 của Việt Nam đã được chúng tôi đưa ra nhiều phản biện.

Cũng như nghiên cứu của BS Schecter về thực phẩm bị nhiễm độc dioxin ở Biên Hòa đăng trong tạp chí JOEM ở HK cũng đã được chúng tôi đối đáp trên cùng một tạp chí vì kết luận của tác giả chỉ dựa theo định kiến ban đầu hơn là suy luận từ những kết quả đo đạc được...

Hỏi: Chúng tôi được biết, Luật sư Kokkoris, đại diện pháp lý của Hội NNCĐDCViệt Nam cũng có mặt ở Hội nghị, ông có bài tham luận hay công bố gì không?

Đáp: Có lẽ vì không hài lòng với phán quyết của tòa án, Luật sư Kokkoris đã công bố tại hội nghị Paris như sau: “Bên cạnh tòa án luật pháp còn có tòa án dư luận. Sự vận động của tòa án dư luậnđã bắt đầu trong chiến tranh...Chúng tôi đã thắng ở tòa án dư luận, và tiếp tục gây sức ép, tiếp tục đấu tranh”.

Ông cũng tuyên bố tiếp về vụ tranh tụng như sau: “Các công ty hóa chất HK đã trộn chất độc dioxin vào chất Da cam, và chúng tôi đi kiện chính vì điểm nầy”. Để rối sau cùng ông kết luận:”Kết quả ở tòa án là một sự thất vọng, nhưng chưa phải là thất bại”.

Chúng tôi nghĩ trước sau rồi Hội NNCĐDCViệt Nam sẽ gữi đơn kháng án lên Tối cao Pháp viện HK.

Diễn biến trong tương lai

Hỏi: Trở lại vụ kiện vừa rồi, quan điểm của Tiến sĩ như thế nào về những diễn biến có thể xảy ra trong tương lai?

Đáp: Thưa anh. Một trong những biện pháp để giải quyết vấn đề đã được chúng tôi trình bày nhiều lần trên nhiều diễn đàn khác nhau. Đó là chúng tôi luôn quan niệmvà cổ súy việc hợp tác nghiên cứu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc giải quyết toàn bộ vấn nạn nhiễm độc mà môi trường Việt Nam đang phải gánh chịu.

Trong Biên bản ghi nhớ đã được HK và Việt Nam ký kết ngay sau khi Hội nghị Quốc tế về Dioxin ở Hà Nội vào tháng 3,2002 có ghi những điều khoản sau đây:

Bạn nghĩ gì về vụ việc này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

- Hai phía cùng hợp tác nghiên cứu ảnh hưởng lên con người và môi trường ở hai nơi đã bị phun xịt nhiều nhất là vùng Mã Đà (Bình Dương) và Đà Nẵng;

- Hoa Kỳ sẽ trợ giúp viện trợ kỹ thuật cũng như huấn luyện nhân sự chuyên môn trong lãnh vực phân tích cao cấp nầy, cùng trao đổi các kết quả nghiên cứu có được.

Sư hợp tác qua ký kết nầy chưa hề được bắt đầu cho đến khi xảy ra vụ kiện. Chúng tôi nghĩ, vụ kiện do Việt Nam đưa ra trong thời điểm nầy để cố tình dựng lại không khí chiến tranh lạnh trong bang giao quốc tế, thiếu hợp,lý vì không trưng dẫn được chứng cớ khoa học có tính thuyết phục, phí phạm công sức trong khi nhu cầu phát triển của Việt Nam phải chiếm ưu tiên hàng đầu.

Do đó, người Việt dù ở nội địa hay hải ngoại cần phải sáng suốt, đề cao cảnh giác để không bị lung lạc về mặt tình cảm để nhận diện rõ ràng tính cách chính trị hay nhân đạo trong vụ tranh tụng nầy.

Sau cùng thiết nghĩ quyết định của Việt Nam vẫn chưa muộn là trở lại với ký kết ban đầu của Hội nghị Hà Nội 2002 để hai phía có điều kiện và căn bản pháp lý trong hợp tác và truy tìm nguyên nhân đích thực của vấn nạn môi trường ở Việt Nam. Có được như vậy, mới có thể thực sự biết được nguyên nhân của nỗi đau của nạn nhân hơn là làm sống lại một sự kiện lịch sử đã đi vào quên lãng từ lâu.

Mới đây, thêm một tia hy vọng mới qua lời tuyên bố của phát ngôn viên Lê Dũng thuộc bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 21,3 là: “Việt Nam sẵn sàng hợp tác nghiên cứu khắc phục hậu quả chất độc da cam”. Căn cứ vào Biên bản ghi nhớ vừa nêu trên, chúng tôi mong mõi sự kiện sẽ là một sự thật trong một tương lai rất gần.

Kính chào Quý thính giả của Đài ACTD

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang