Chị Phạm Thị Huệ và quán ca trù đầu tiên ở Việt Nam

2006-09-25
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Phương Anh, phóng viên đài RFA

Vào ngày 10 tháng 8 vừa qua, ở Hà Nội, chị Phạm thị Huệ, hiện là giảng viên nhạc viện Hà Nội về môn đàn tỳ bà, đã ra mắt giới yêu chuộng âm nhạc truyền thống Việt Nam ca quán ca trù. Một hình thức nghệ thuật độc đáo của Việt Nam đã được tổ chức UNESCO liệt kê vào danh mục di sản thế giới.

PhamThiHueCaTru200.jpg
Chị Phạm Thị Huệ và hai người thầy: bà Nguyễn Thị Chúc, ông Nguyễn Phú Đẹ. Photo courtesy TuoiTre Online.

Khác với những nghệ nhân khác, chị Phạm Thị Huệ vừa hát ca trù vừa có thể chơi đàn đáy. Đây là lần đầu tiên, gần 60 năm qua, hình thức ca quán ca trù này được lập lại. Trang Phụ Nữ kỳ này xin gửi tới quí vị các chi tiết lý thú về chị Phạm Thị Huệ và ca quán ca trù này.

Quý vị vừa nghe một đoạn trong bài Tỳ Bà Hành với tiếng đàn đáy của chị Phạm Thị Huệ. Được biết, chị sinh năm 1973 và theo học đàn tỳ bà từ năm lên 8. Vì theo học bộ môn âm nhạc truyền thống và được nghe nói về ca trù, chị rất thích tìm hiểu nó nhưng vì không có cơ hội và không có tài liệu.

Theo học từ năm lên 8

Mãi cho đến khi ca trù được UNESCO công nhận thành di sản văn hoá thế giới, và họ đi truy tìm các nghệ nhân thì chị mới có dịp gặp gỡ để theo học. Chị kể lại:

“Em đã thích từ lâu, nhưng vì không thấy ai là phụ nữ đánh đàn đáy nên em cũng không học, nhưng sau này thấy các nhà nghiên cứu có thấy tượng ở trong bức phù điêu có hình người phụ nữ đánh đàn nên em mới học.

Đàn đáy rất khó, nhất là đối với nữ giới vì nó dài và kỹ thuật “chùn” là kỹ thuật đặc biệt của đàn đáy, dây to và gẩy bằng que tre, nên nếu lực đẩy vừa phải mạnh vừa phải khéo. Hai kỹ thuật đó phải kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Hơn nữa, kỹ thuật của ca trù cũng như kỹ thuật đàn để cho ca được cũng rất khó.

Người dậy em đầu tiên là bà Phó Thị Kim Đức, bà dậy về kỹ thuật thanh nhạc, thông qua một bài hát chèo, mục đích là để ngắt hơi, nhả chữ. Sau đó, một người quen của bà thấy em rất thích học đàn đáy, mà em thì biết đánh đàn tỳ bà sẵn rồi, nên mới xin bà cho em xuống học cụ Đẹ ở Hải Dương, là cụ Nguyễn Phú Đẹ, là nghệ nhân duy nhất chơi đàn đáy còn lại hiện nay.”

Chị cũng cho biết những khó khăn khi theo học đàn đáy, một loại đàn chỉ dành riêng cho các ông. Chị nói:

“Đàn đáy rất khó, nhất là đối với nữ giới vì nó dài và kỹ thuật “chùn” là kỹ thuật đặc biệt của đàn đáy, dây to và gẩy bằng que tre, nên nếu lực đẩy vừa phải mạnh vừa phải khéo. Hai kỹ thuật đó phải kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Hơn nữa, kỹ thuật của ca trù cũng như kỹ thuật đàn để cho ca được cũng rất khó.

Ngày xưa ở đâu đâu cũng có ca trù, có giáo phường, thì học dễ hơn rất nhiều vì nó sẽ ngấm vào mình từng ngày một, nhưng hiện nay, môi trường không có, nghệ nhân cũng không có nhiều. Muốn đàn được đàn đáy phải có một người bên cạnh mình thường xuyên để luyện tập với nhau…. Nhưng nhờ em có kiến thức cơ bản về âm nhạc nên em đã có cách để tạo cho mình có một môi trường học nhanh hơn.”

Lễ “mở xiêm y”

Được biết, sau khi hoàn tất việc học, chị quyết định “trình làng” một buổi biểu diễn ca trù cùng với hai người thầy của mình là cụ Nguyễn Thị Chức và cụ Nguyễn Phú Đẹ mà chị gọi là lễ “mở xiêm y”, chị giải thích:

“Ở trong ca trù, đào nương hay đào đàn, cứ học xong, muốn được ra hành nghề thì phải làm lễ “ mở xiêm y”, trong đó do những người ở trong giáo phường, những người hiểu biết về nghề, có vai trò quan trọng trong đình làng thì họ tổ chức ra một buổi lễ, thường là làm về cuối năm, tất cả các đào đều ra mở xiêm y, coi như một lễ tốt nghiệp, còn ai chưa đủ điều kiện thì học tiếp.

Gần 60 năm rồi, luật lệ này hầu như bị mất, không có ai lập lại nữa. Sau khi tìm hiểu, em đã muốn được làm như thế để dần dần sau này khôi phục lại nó. Ca quán là một danh từ của nghệ thuật ca trù để phân biệt với nghệ thuật hát khác.

Hát ca quán là một thể loại hát chơi, ở vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, loại ca quán này hình thành, phục vụ cho giới thượng lưu… nhà thơ, nhà văn lúc đó rất thích sáng tác theo thể loại hát nói ca trù. Những nhà hát mọc ra người ta gọi là ca quán và bây giờ em lập lại hình thức đó, nhưng không mang tính chất kinh doanh.”

Người có năng khiếu thì mới hát được, chứ không phải ai cũng học được. Học thì nhiều, nhưng chỉ được ít thôi, thành công thì được ít lắm. Người ta phải thông minh, tiếp thu nhanh, thì mới được, chứ học xong thì lại quên, và phải có giọng mới được. Huệ giỏi lắm, hát rất hay và giỏi, nó học chóng lắm…Có người phải học năm, sáu năm, nhưng cô ấy thì chỉ độ 1 năm là xong hết.

Chị cũng cho biết những khó khăn mà chị đã và đang gặp phải khi gặp ca quán ca trù: “Lúc đầu đi kiếm địa điểm, em muốn ở phố Cổ, vì không gian của nó rất quan trọng, và làm sao cho mọi người dễ tìm, nhưng cũng không có được điều kiện đó, chính vì thế em đã dùng tầng 3 của nhà em…

Một khó khăn nữa là để xin khoản tài trợ để duy trì sinh hoạt này cho lâu dài vì em muốn giao lưu những thông tin ca trù với khán giả, đồng thời để gìn giữ nghệ thuật ca trù. Hơn nữa, hai thầy ở rất xa, thầy thì ở Hà Tây, thầy thì ở Hải Dương, mỗi lần phải đưa đón lên, rất khó khăn. Hiện nay, em tự bỏ tiền ra và lo tất cả mọi việc.”

Đến đây, mời quí vị nghe bài Tỳ Bà Hành do chị Phạm Thị Huệ trình bày theo thể loại ca trù: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)

Những nghệ nhân cuối cùng còn sống

Cũng theo lời chị Huệ cho biết, hiện nay, ở Việt Nam chỉ còn lại hai người hát ca trù tốt nhất đó là nghệ sĩ Phó Thị Kim Đức và cụ Nguyễn thị Chức, ở Hà Tây, cả hai đều đã 76 tuổi.

Riêng về đàn đáy thì duy nhất chỉ còn cụ Nguyễn Phú Đẹ, ở Hải Dương, là nghệ nhân cuối cùng còn sót lại của món đàn độc đáo và rất khó chơi này. Nhân đây, mời quí vi nghe cụ Chức nói về những người muốn học ca trù và riêng về chị Huệ: “Người có năng khiếu thì mới hát được, chứ không phải ai cũng học được. Học thì nhiều, nhưng chỉ được ít thôi, thành công thì được ít lắm. Người ta phải thông minh, tiếp thu nhanh, thì mới được, chứ học xong thì lại quên, và phải có giọng mới được. Huệ giỏi lắm, hát rất hay và giỏi, nó học chóng lắm…Có người phải học năm, sáu năm, nhưng cô ấy thì chỉ độ 1 năm là xong hết.”

Còn cụ Đẹ, nghệ nhân chơi đàn đáy duy nhất còn lại thì nói về người chơi loại đàn này: “Ngón tay phải đẹp, tháp bút, vào đàn mới đẹp, được tay búp măng thì đẹp nhất. Cô ấy học có khoa học nên học rất nhanh, có năng khiếu đàn, khá. Học đàn đáy thì khó, nếu tiếp thu nhanh thì phải một năm, bình thường thì phải năm năm, nhưng tiếng đàn hay thì phải rất khó.

Đàn bà đàn rất hiếm, trước đây cũng có nhưng không ra gì, bây giờ thì có nhiều sáng kiến nên mới học được, chứ trước đây thì khó lắm. Huệ đã biết đàn các loại đàn nên tay vào loại đàn này cũng dễ hơn.”

Mơ ước

Em ước mơ hai mươi năm nữa, ca trù sẽ trở lại với đời sống như ngày xưa, có một lực lượng đông đảo hiểu biết về thơ, biết đáng trống, và biết thưởng thức kỹ thuật thanh nhạc, và đặc biệt là những em ở lứa tuổi mầm non khi trưởng thành, sẽ có những em yêu thích và theo nghề.

Được hỏi vì sao chị lại cố gắng dành hết thời gian và tiền bạc của mình để dựng lại ca trù, một môn nghệ thuật gần như đang bị mai một dần, chị cho hay:

“Mục đích là mong muốn xây dựng lại được phong trào ca trù như ngày xưa, là để bảo tồn. Em đang rất muốn xây dựng một dự án để dậy lại cho các em nhỏ tuổi vì lứa tuổi nhỏ tiếp xúc với âm nhạc dễ hơn là dậy cho người lớn, để sau này kế tiếp. Thực ra, giới trẻ ở Hà Nội cũng không được giáo dục về âm nhạc truyền thống là có giá trị như thế nào đối với từng dân tộc và từng con người.

Theo quan điểm của em thì bên giáo dục cũng cần đưa những chương trình vào trong các trường phổ thông để các em có ý thức đó. Từ đó, khi nghe thông tin về âm nhạc truyền thống thì các em có ý thức, các em sẽ tự lo tìm hiểu và lúc đó, chúng ta sẽ không lo sợ âm nhạc hay một loại hình nghệ thuật nào mất đi cả. Hiện nay, trên thực tế, chỉ có một số bạn trẻ biết đến là vì các bạn ấy đã được đánh thức về âm nhạc truyền thống nên các bạn tìm đến để nghe.”

Thưa quý vị và các bạn, để kết thúc bài này, Phương Anh xin mời quí vị nghe ước mơ của chị Phạm Thị Huệ: “Em ước mơ hai mươi năm nữa, ca trù sẽ trở lại với đời sống như ngày xưa, có một lực lượng đông đảo hiểu biết về thơ, biết đáng trống, và biết thưởng thức kỹ thuật thanh nhạc, và đặc biệt là những em ở lứa tuổi mầm non khi trưởng thành, sẽ có những em yêu thích và theo nghề.”

Vừa rồi là những thông tin về chị Phạm Thị Huệ, người đã thành lập ca quán ca trù đầu tiên ở Việt Nam. Trang phụ nữ xin chấm dứt nơi đây. Hẹn gặp lại quí vị cùng các bạn trong chương trình kỳ sau.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang