Tìm hiểu thị trường cổ phần đầu tư trong nước (Phần 2)

2005-12-08
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Việt Long, phóng viên đài RFA

Trong buổi phát thanh trước đây, chuyên viên kinh tế trong nước Hoàng Thanh Phong đã trả lời những câu hỏi của Việt Long về nguyên do vấn đề giá cổ phiếu ngân hàng thương mại trong nước gia tăng mà những người đầu tư vẫn đổ xô tìm mua, cùng với việc cổ phần hoá ngân hàng ở Việt Nam. Mời quý vị nghe tiếp câu chuyện.

stockBank200.jpg
Giá cổ phiếu ngân hàng thương mại trong nước gia tăng mà những người đầu tư vẫn đổ xô tìm mua. AFP PHOT

Việt Long: Thưa ông Hoàng Thanh Phong, tiếp tục cuộc trao đổi lần trước về đầu tư cổ phiếu và cổ phần hoá ngân hàng, câu hỏi tiếp của chúng tôi là: đầu tư vào cố phiếu thì hẳn là có rủi ro, nhưng trong tình hình kinh tế và đầu tư ở Việt Nam thì rủi ro tới mức nào?

Sinh lời cao, nhưng nhiều rủi ro

Hoàng Thanh Phong: Việc đầu tư vào cổ phiếu tất nhiên luôn luôn đi kèm với rủi ro. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam thì tôi cho là nhà đầu tư không có nguy cơ bị mất tiền, vì trong mấy năm gần đây thì không có ngân hàng nào ở Việt Nam bị phá sản.

Tuy nhiên như tôi đã nói, nếu người dân mua cổ phiếu với giá quá cao, thì họ có thể sẽ không đạt được tỷ lệ lãi thoả đáng. Còn nếu họ mua với dụng ý chờ cho giá cổ phiếu lên cao để bán thì có thể họ cũng kiếm được lợi nhuận hấp dẫn nhưng phải chờ đợi lâu.

Tuy nhiên dù sao thì khả năng sinh lời cao và lâu dài cũng phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nghĩa là chứa đựng thêm rủi ro.

Thí dụ, theo như báo cáo chính thức của Sacombank thì ngân hàng có đầu tư hơn 10% tài sản của nó vào cổ phiếu của các công ty khác, và khoảng hơn 10% nữa là cho vay vào đầu tư bất động sản, thì trong trường hợp các khoản đầu tư này không sinh lợi, như ta thấy hiện nay khu vực bất động sản đang đóng băng, thì khả năng lợi nhuận của Sacombank sẽ bị ảnh hưởng.

Việc đầu tư vào cổ phiếu tất nhiên luôn luôn đi kèm với rủi ro. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam thì tôi cho là nhà đầu tư không có nguy cơ bị mất tiền, vì trong mấy năm gần đây thì không có ngân hàng nào ở Việt Nam bị phá sản.

Còn trong trường hợp khác, khi có rủi ro về tin đồn có sai phạm trong quản lý tài chính ở ngân hàng ACB hồi mùa hè năm 2003 hay ở ngân hàng Phương Nam hồi hè năm nay thì đã dẫn đến nhiều người gửi tiền đòi rút tiền hàng loạt và chắc chắn là có thiệt hại.

Công khai và minh bạch về tài chính

Việt Long: Việc này nghe như có liên quan đến vấn đề tài chính minh bạch. Nhà nước Việt Nam thường mang tiếng là không công khai và minh bạch về tài chính, nhưng trong lãnh vực ngân hàng thì có khá hơn không?

Hoàng Thanh Phong: Có một thực tế là hệ thống thông tin tài chính của nhiều ngân hàng vẫn còn không minh bạch, thí dụ hầu như không ngân hàng nào chịu công bố thật số tiền họ cho vay mà không thể thu hồi được, hay ta còn gọi là nợ xấu, cho nên người đầu tư cổ phiếu sẽ khó lường trước được tình hình để quyết định khi nào nên mua hay nên bán các cổ phiếu họ giữ.

Việt Long: Hiện có tin là nhiều ngân hàng nước ngoài đang muốn đầu tư vào các ngân hàng trong nước, thì tại sao họ muốn tham gia trong tình hình kém minh bạch như vậy, và sự tham gia đó có giúp giảm bớt các rủi ro cho nhà đầu tư hay không?

Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, các ngân hàng trong nước thì có các điểm mạnh là có hệ thống chi nhánh rộng, có quan hệ khách hàng tốt, và chi phí hoạt động thấp, đó chính là lý do hấp dẫn đầu tư từ các ngân hàng nước ngoài, là những người có kinh nghiệm quản lý, có công nghệ cao và tiềm lực tài chính mạnh.

Chắc chắn sự hợp tác sẽ có lợi cho cả hai bên, vì bên Việt Nam sẽ học được các phương pháp quản lý hiện đại từ phía nước ngoài. Còn các ngân hàng nước ngoài thì sẽ xem xét rất kỹ các đối tác trong nước khi họ muốn mua cổ phiếu hay tham gia đầu tư, và chắc chắn họ sẽ yêu cầu áp dụng các công nghệ quản lý hiện đại để bảo đảm đầu tư có hiệu quả. Hiện thì cổ phiếu của các ngân hàng có nhà đầu tư nước ngoài đều có giá cao, chứng tỏ nhân dân có tin tưởng hơn ở các ngân hàng mà có đầu tư nước ngoài.

Cán bộ Nhà nước chiếm nhiều cổ phần

BankATM200.jpg
Gửi tiết kiệm vẫn là cách để bảo đảm chắc chắn giá trị của các khoản tiết kiệm. AFP PHOTO

Việt Long: Ở trong nước có dư luận cho rằng cán bộ Nhà nước chiếm nhiều cổ phần trong nhiều ngân hàng thương mại, cho nên việc đẩy giá cổ phiếu ngân hàng lên cao đem lại lợi nhụân cho họ, mà lại làm cho người đầu tư mua cổ phiếu không còn cơ hội kiếm lời. Ông có ý kiến ra sao?

Hoàng Thanh Phong: Trước hết việc tăng giá cổ phiếu và vận động người đầu tư mua cổ phiếu là những việc thuộc về lãnh vực chuyên môn, Nhà nước hay cán bộ có cổ phần hay không thì việc kinh doanh của ngân hàng vẫn phải như thế. Người đầu tư mất cơ hội hay được cơ hội làm giàu thì đó chỉ là hệ quả tất yếu trong kinh doanh, tất cả các nước theo kinh tế thị trường đều như vậy.

Tất nhiên thì ai cũng biết ở nước ta ngày nay trong giới kinh doanh có nhiều quan chức có vốn, có quyền, nhưng điều đó thuộc về lãnh vực khác, có thể là lãnh vực xã hội, chính trị. Ở đây tôi xin chỉ đề cập đến khía cạnh kinh tế.

Cơn sốt giá cổ phiếu ngân hàng

Việt Long: Sau những phân tích của ông vừa rồi thì ông cho là cơn sốt giá cổ phiếu ngân hàng liệu còn kéo dài bao lâu?

Hoàng Thanh Phong: Cũng khó có thể đưa ra dự đoán, vì nếu Nhà nước muốn hút tiền đầu tư của dân chúng cho sự mở rộng của hệ thống ngân hàng, mà nay mới chỉ là giai đoạn bắt đầu, thì ít nhiều họ sẽ thành công, vì trong tình trạng thông tin mù mờ như hiện nay thì dân chúng cũng khó để mà dự đoán về triển vọng đầu tư của họ.

Việt Long: Như vậy thì theo ông, người đầu tư trong nước nên làm gì trước tình trạng mù mờ đó?

Tất nhiên thì ai cũng biết ở nước ta ngày nay trong giới kinh doanh có nhiều quan chức có vốn, có quyền, nhưng điều đó thuộc về lãnh vực khác, có thể là lãnh vực xã hội, chính trị. Ở đây tôi xin chỉ đề cập đến khía cạnh kinh tế.

Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, người dân đầu tư thì cần phải cảnh giác trước các lời khuyên họ mua cổ phiếu, vì giá các cổ phiếu sẽ lên xuống thất thường, không bảo đảm lợi tức ổn định, đặc biệt vào lúc thị trường Việt Nam còn đang có các rủi ro cao, như dịch cúm gia cầm, hay bất động sản đóng băng, hay sự thiếu minh bạch của các công ty đầu tư, cho nên nếu là người không có đủ kinh nghiệm thì họ vẫn nên gửi tiết kiệm để bảo đảm chắc chắn giá trị của các khoản tiết kiệm của họ.

Còn với dân đầu tư chuyên nghiệp, thì họ có thể tham gia góp vốn vào các dự án kinh doanh mà họ biết chắc chắn. Thị trường còn rất nhiều cơ hội để đầu tư. Thí dụ như vì rất nhiều người dân vẫn thiếu nhà ở, thì ngay cả việc đầu tư vào xây địa ốc vẫn hứa hẹn các khoản lời hấp dẫn, dù là thị trường nhà đất còn đóng băng.

Đó chỉ là thí dụ thôi, không phải là tôi định đưa ra một lời khuyên nào trong việc đầu tư, là việc mà ở nước nào cũng phải có rủi ro. Lời khuyên theo ý tốt mà lại bị bắt đền, thì khổ...

Theo dòng thời sự:

- Tìm hiểu thị trường cổ phần đầu tư trong nước (Phần 1)

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang