Thiện Giao, phóng viên đài RFA
Trong bài cuối cùng tìm hiểu về thực trạng giáo dục phổ thông tại Việt Nam, chúng ta sẽ cùng quay trở lại với hiện tượng bỏ học đang được dư luận quan tâm. Có vẻ, giới chức hữu trách không nhìn nhận hiện tượng bỏ học như một vấn nạn lớn của xã hội, đòi hỏi những nghiên cứu sâu rộng và giải pháp kiên quyết.

Giới chuyên môn cho rằng, bỏ học, không chỉ là hiện tượng học sinh không đến trường, mà là một vấn đề mang tính xã hội, liên quan đến nhiều nguyên nhân khác nhau.
Vậy, con số học sinh bỏ học mà Bộ Giáo Dục đưa ra gần đây là thấp hay cao? Và đâu là nguyên nhân của hiện tượng này. Biên tập viên Thiện Giao xin trình bày sau đây các ý kiến của những người đã từ lâu quan tâm đến lãnh vực này.
Một vấn đề mang tính xã hội
Hiện tượng học sinh bỏ học hàng loạt là một trong những vấn đề mà dư luận Việt Nam quan tâm nhất trong thời gian qua.
Những con số thống kê đưa ra cho thấy, hơn 3 triệu rưỡi học sinh trung học rời ghế nhà trường trước khi cầm trong tay mảnh bằng tốt nghiệp. Và chỉ riêng trong học kỳ đầu năm nay, theo thống kê của Bộ Giáo Dục, hơn 100 ngàn học sinh không trở lại trường.
Một số người quan tâm đến tình trạng giáo dục, đã nhiều lần, trong nhiều năm, lên tiếng về tình trạng bất cập trong ngành giáo dục Việt Nam, tỏ ra hoài nghi về con số 100 ngàn.
Nhà văn Nguyên Ngọc, người chủ trường đại học tư thục Phan Châu Trinh tại Quảng Nam, nhận định:
Học sinh bỏ học không phải năm nay, đã nhiều năm rồi. Con số Bộ Giáo Dục nói là khoảng 100 ngàn. Nhưng có người nói con số ấy phải gấp 5, 10 lần cơ. Gần đây, Bộ Giáo Dục công bố thống kê từng năm, nhiều người nói chưa chính xác. Nhưng chuyện bỏ học nhiều thì chắc chắn là có.
“Học sinh bỏ học không phải năm nay, đã nhiều năm rồi. Con số Bộ Giáo Dục nói là khoảng 100 ngàn. Nhưng ông Hạc, cựu Bộ Trưởng Giáo Dục, nói con số ấy không chính xác, mà phải gấp 5, 10 lần cơ. Gần đây, Bộ Giáo Dục công bố thống kê từng năm, nhiều người nói chưa chính xác. Nhưng chuyện bỏ học nhiều thì chắc chắn là có. Vậy làm sao phải giải quyết?”
Những hoài nghi trong số liệu thống kê đặt ra nhu cầu của một nghiên cứu thấu đáo, tìm hiểu từng nguyên nhân của hiện tượng, ngỏ hầu tìm ra giải pháp. Giáo sư Phạm Phụ, với gần 40 năm giảng dạy đại học tại Việt Nam, đưa ra ý kiến.
“Vừa qua, các con số thống kê nói ra, tôi cảm thấy các con số thống kê không ổn lắm. Ví dụ, 109 ngàn học sinh bỏ học, trước đó là vài trăm ngàn. Tôi thấy con số thống kê này chưa ổn. Trong thời gian vừa qua, với những giải pháp nâng cao chất lượng, con số bỏ học phải nhiều hơn, chứ sao giảm đi. Tôi thấy phân vân.”
Những hệ luỵ lâu dài
Rõ ràng, cho đến nay, ngoài những nguyên nhân bỏ học, mà báo chí trong nước gọi là “chung chung, thời kỳ nào cũng đúng,” do Bộ Giáo Dục Việt Nam đưa ra, chưa có con số cụ thể cho từng nguyên nhân cũng như những giải pháp căn cơ đi kèm.
Từ California, ông Lê Nguyên Phương, giảng viên đại học California State University, Long Beach, nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành Lãnh Đạo Giáo Dục, trình bày sơ lược về phương pháp tính tỷ lệ học sinh bỏ học tại Hoa Kỳ.
“Việc tính tỉ lệ học sinh bỏ học không phải là điều đơn giản. Chỉ riêng việc tính tỉ lệ bỏ học của học sinh trung học, thì Trung tâm Thống Kê Giáo Dục Toàn Quốc của BGD Hoa Kỳ đã sử dụng hai cách tính.
Trong cách tính thứ nhất gọi là event dropout rate (tỉ lệ bỏ học nhất thời), ta tính số phần trăm học sinh bỏ học trong một khoảng thời gian tương đối ngắn chẳng hạn giữa đầu năm học này đến đầu năm kế.
Số liệu của cách tính này dùng để nghiên cứu ảnh hưởng của một hiện tượng xã hội nhất định đối với xu hướng bỏ học, thị dụ như ở VN thì là ảnh hưởng của chính sách không ngồi nhầm lớp đối với việc bỏ học chẳng hạn.

Cách thứ nhì gọi là status dropout rate (tỉ lệ bỏ học vĩnh viễn), thì tính tỉ lệ học sinh không đến trường và không có bằng trung học, bất kể các em đã bỏ học lúc nào.
Số liệu theo cách tính sau giúp chúng ta nghiên cứu những vấn đề giáo dục và xã hội rộng lớn và lâu dài hơn, chẳng hạn như biết tỉ lệ học sinh VN hoàn tất chương trình phổ thông để hoạch định một chính sách phát triển kinh tế đòi hỏi một lực lượng nhân công có trình độ kỹ thuật cao.
Với cách tính thứ hai thì con số bỏ học tại Hoa Kỳ theo Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ ước tính vào niên khóa 02-03 là khoảng 9.9% cho toàn quốc.
Thử so sánh tỉ lệ học sinh bỏ học cùng niên khóa đó tại một số nước trên thế giới thì chúng ta có Nhật là 2.2%, Anh là 6%, Canada là 10%, Pháp và Đức ở khoảng trên 14%, và Úc là 18.5%.”
Lý giải của Bộ Giáo Dục VN
Một trong những lý do mà Bộ Giáo Dục đưa ra để lý giải hiện tượng bỏ học là do “hiện tượng di chuyển nơi cư trú, đi làm ăn xa nhà.” Không rõ giới chức hữu trách đưa ra lý do này để khẳng định là hễ học sinh và gia đình đổi nơi cư trú là sinh ra bỏ học, hay là Bộ không kiểm soát được học sinh có bỏ học hay không?
Học sinh bỏ học tức là vấn đề của động lực. Học sinh đặt câu hỏi việc học có kết quả, có giá trị hay không. Khi học xong được vào đại học, có cơ hội tiến thân, có việc làm. Nếu học sinh trung học cảm thấy đi học không còn giá trị thiết thực, thì chuyện bỏ học dễ dàng xảy ra.
Chúng tôi hỏi chuyện luật sư Nguyễn Quốc Lân, Chủ Tịch Hội Đồng Học Khu Giáo Dục Garden Grove, California, về việc theo dõi học sinh đổi nơi cư trú, và được biết sẽ không có trường hợp lọt sổ, vì luật lệ qui định khắc khe khi một trường nhận một học sinh mới:
“Hay các gia đình đổi đi xa, chúng tôi có luật là trường mới, nhận học sinh phải báo cho trường cũ biết là các em đến trường mới. Nếu không chúng tôi phải đi tìm gia đình các em để tìm cho ra lý do. Nói chung là phải tìm hiểu lý do đầu tiên.
Trường nhận phải có hồ sơ trước đây của các em. Nếu nhận lớp 10, phải có hồ sơ lớp 8 lớp 9 của các em. Chúng tôi phải biết chính xác để không đưa ra con số sai lầm về tỷ lệ bỏ học.”
Xét về nguyên nhân bỏ học, có nhiều cách lý giải được đưa ra, trong đó có thể kể hoàn cảnh kinh tế gia đình, chương trình học vừa hàn lâm, nặng nề, vừa không hấp dẫn, và nhất là sự thiếu vắng cơ hội tiến thân một cách công bình thông qua con đường học vấn.
Theo nhà văn Nguyên Ngọc, việc tăng học phí và chương trình học là nguyên nhân đáng quan tâm: "Tôi nghĩ là học phí có vấn đề. Khoảng độ 1 năm nay, với chủ trương tăng học phí giáo dục, có nhiều phản ứng cho thấy như vậy chưa chắc đã đúng. Nhưng theo tôi, hiện tượng bỏ học liên quan đến 1 chuyện quan trọng hơn, là do học sinh chán học, vì chương trình, vì cách dạy, vì nội dụng, vì phương pháp dạy. Đặc biệt là ở giáo dục phổ thông. Ngay cả đại học cũng có hiện tượng bỏ học."
Cũng cùng quan điểm này, một chuyên viên giáo dục trong nước, yêu cầu không nêu tên, nhận định: "Ở Việt Nam, chương trình đào tạo được xem là pháp lệnh. Giáo viên đến ngày đó, tiết đó trong năm học là phải dạy bài đó."
Một số cựu học viên chương trình Giảng Dạy Kinh Tế Fulbright do đại học Harvard tổ chức tại Việt Nam nói rằng, hiện nay các môn học về chính trị vẫn còn nặng nề tại Việt Nam.
Cụ thể là, những sinh viên của chương trình Fulbright, mặc dầu được trang bị một số lượng kiến thức rất mới và thực tế, tương đương chương trình Cao Học, lại không được nhà nước Việt Nam cấp bằng Cao Học, mà chỉ cấp cho một chứng chỉ tốt nghiệp.
Lý do là vì phía đại học Harvard từ chối đưa các môn Kinh Tế Chính Trị Max-Lenin và Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học vào chương trình giảng dạy, còn phía Bộ Giáo Dục Việt Nam thì nhất định phải có các môn này.
Việc tìm hiểu lý do bỏ học cần đặt trong một ngữ cảnh rất rộng, bao gồm cả nhận thức của chính học sinh về giá trị tinh thần và kinh tế của học vấn. Tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh, Giám Đốc Ban Chính Sách Ngôn Ngữ Hệ Thống Đại Học California State University, nhận định:
“Học sinh bỏ học tức là vấn đề của động lực. Học sinh đặt câu hỏi việc học có kết quả, có giá trị hay không. Giá trị là giá trị tinh thần và kinh tế. Giá trị tinh thần là được bồi bổ, thâu thập biến thức, mở mang trí tuệ. Khi học xong được vào đại học, có cơ hội tiến thân, có việc làm. Nếu học sinh trung học cảm thấy đi học không còn giá trị thiết thực, thì chuyện bỏ học dễ dàng xảy ra.”
Bên cạnh đó, theo lời tiến sĩ Kim Oanh, các vấn đề gia cảnh, môi trường học đường, cộng đồng và xã hội cũng đóng góp rất nhiều vào hiện tượng bỏ học. Vì lý do này, nghiên cứu hiện tượng bỏ học là một vấn đề phức tạp, cần phải được xem xét từ nhiều khía cạnh.
Cải cách giáo dục Việt Nam, trong cách nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu, đồng nghĩa với nhu cầu cải cách xã hội. Việc thay đổi, trước hết, phải bắt đầu từ ý chí của chính phủ đối với hệ thống quản lý và quan niệm về giáo dục.
Song song với các cải cách này, vấn đề về tư thế và tư cách giáo viên, mối quan hệ giữa học đường, gia đình và xã hội cũng trở nên cấp thiết. Sau cùng, cũng là điều then chốt nhất, là tạo sự công bằng trong môi trường giáo dục, từ đó tạo một cơ chế bình đẳng trong quá trình tiến thân trong xã hội.
Trên đây là bài cuối cùng trong loạt bài trình bày về thực tế giáo dục Việt Nam hiện nay. Trong bài này, chúng ta đã điểm lại một hiện tượng đang được dư luận trong nước quan tâm, đó là chuyện học sinh rời ghế nhà trường mà không có được tấm bằng tốt nghiệp trong tay. Vấn đề không đơn giản là các em bỏ học, gia nhập vào cuộc đời, bắt đầu đi làm, kiếm sống. Chuyện học sinh bỏ học đặt ra những rủi ro sau đó, trong cả cuộc sống dài trước mắt các em. Và đây không chỉ là gánh nặng trên vai của giới trẻ, đây là gánh nặng mà cả xã hội, về lâu về dài, sẽ phải gánh chịu. Câu hỏi đặt ra là liệu chính quyền nhìn nhận điều này ra sao? Và sẽ phải có những giải pháp căn cơ như thế nào?
