Chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước của chính phủ Việt Nam

2005-11-07
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này

Việt Long, phóng viên đài RFA

Hiện nay Việt Nam đang ở vào một thời điểm quan trọng: chuẩn bị kết thúc kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2001-2005 và bước vào giai đoạn 5 năm mới 2006-2010.

FordVnInvest150.jpg
Việt Nam đang cố gắng thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư quốc tế có tiềm năng. AFP PHOTO

Vừa qua chính phủ Việt Nam đã làm hai việc đáng chú ý, là nâng cao tỷ lệ đầu tư gián tiếp của người nước ngoài trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, từ 30% lên 49%, và việc thứ hai là phát hành một đợt trái phiếu quốc tế trị giá 750 triệu đôla.

Chúng tôi tham khảo ý kiến một chuyên viên kinh tế làm việc trong nước, ông Hoàng Thanh Phong, để nhờ ông phân tích thêm vấn đề.

Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

Việt Long: Trước hết, ông đánh giá như thế nào về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chính phủ Việt Nam.

Hoàng Thanh Phong: Trong thời gian khoảng hơn 12 năm đầu tiên, từ 1988 cho đến 2000, thì Nhà nước chỉ cấp phép cho các công ty nước ngoài có đầu tư trực tiếp, có nghĩa là trực tiếp bỏ vốn vào để đầu tư thành lập các doanh nghiệp liên doanh hay 100% vốn nước ngoài.

Hai hình thức đó đều có các hạn chế với nhà đầu tư nước ngoài. Rồi sau đó, để đáp ứng các nhu cầu đầu tư đa dạng và lâu dài, Việt Nam đã cho phép thị trường chứng khoán hoạt động và từ tháng 7 năm 2000 thì các nhà đầu tư nước ngoài đã được phép mua cổ phiếu của các công ty Việt Nam. Đây được coi là đầu tư gián tiếp.

Thay đổi vì Việt Nam đang đứng trước sức ép rất lớn là phải huy động nhiều nguồn tiền vốn lớn để đầu tư cho phát triển kinh tế và vì Chính phủ muốn bán nhiều cổ phần trong hàng nghìn công ty nhà nước trong giai đoạn 2006-2007.

Việt Long: Nhưng trong một thời gian dài người nước ngòai chỉ được sở hữu tối đa là 30% cổ phần trong các công ty đã cổ phần hoá và đã tham gia thị trường chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh. Chính sách này mới thay đổi, nhưng vì sao phải thay đổi và thay đổi như thế nào?

Hoàng Thanh Phong: Thay đổi vì Việt Nam đang đứng trước sức ép rất lớn là phải huy động nhiều nguồn tiền vốn lớn để đầu tư cho phát triển kinh tế và vì Chính phủ muốn bán nhiều cổ phần trong hàng nghìn công ty nhà nước trong giai đoạn 2006-2007.

Số tiền Nhà nước muốn thu hút lên tới hàng tỷ đôla, các nhà đầu tư trong nước không thể có đủ tiền để mua, mà chỉ có các nhà đầu tư nước ngoài mới cung cấp được số vốn lớn đến như vậy. Đó chính là lý do tạo sao ông thủ tướng Phan Văn Khải mới đây đã cho phép ngườì nước ngoài được mua tới 49% cổ phần của các công ty Việt Nam.

Bán trái phiếu trị giá 750 triệu đôla

Việt Long: Việc đó có liên quan gì đến vụ bán trái phiếu trị giá 750 triệu đôla vừa qua?

Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư quốc tế có tiềm năng, đặc biệt là những công ty đầu tư tài chính lớn, thì Chính phủ Việt Nam phải có các động tác đồng bộ: một mặt mở cửa thị trường trong nước, mặt khác phải thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư cỡ lớn mà cho đến nay vẫn chưa quan tâm đến Việt Nam, nhất là các trung tâm tài chính lớn.

Trong mấy ngày qua các chuyên viên giúp Việt Nam đã tổ chức các buổi thuyết trình ở Hongkong, Singapore, Luân đôn và New York để giới thiệu về triển vọng kinh tế của Việt Nam, đồng thời Nhà nước cũng bán thành công một đợt trái phiếu quốc gia trị giá 750 triệu đôla để thu hút vốn cho các dự án đầu tư trong nước. Hoạt động này đã ít nhiều lôi kéo sự chú ý của các nhà đầu tư quốc tế.

Ngoài ra, theo các con số do Chính phủ công bố thì sẽ có thêm hơn 1,500 doanh nghiệp bán cổ phẩn trong thời gian tới, với trị giá tới vài tỷ đôla, bao gồm cả các doanh nghiệp lớn như các nhà máy điện, nhà máy xi măng, hay cả các ngân hàng thường mại. Chắc chắn chính phủ phải nỗ lực rất nhiều thì mới thu hút được số tiền đầu tư lớn như vậy.

Quyết tâm chính trị

Việc Nhà nước có đẩy mạnh được cải cách trong khu vực các doanh nghiệp lớn vẫn còn là một thách thức và sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố như liệu các nhân vật có đầu óc cải cách có vào được trong ban lãnh đạo sắp tới của đảng hay không, hay khả năng các quan chức cao cấp của Nhà nước có tìm được cách thỏa hiệp để bảo vệ quyền lợi kinh tế riêng của họ trong quá trình cổ phần hóa.

Việt Long: Nhưng ông có cho rằng Nhà nước có đủ quyết tâm chính trị để thực hiện kế hoạch này không? Trong bốn ngân hàng Nhà nước thì chỉ có Vietcombank cổ phần hoá, ba cái còn lại vẫn là quốc doanh.

Nhiều công ty lớn khác, cỡ như Hàng không quốc gia Việt Nam, đâu có chịu đem ra cổ phần hoá.? Thế thì kế hoạch như ông nhìn có vẻ lạc quan, liệu sẽ đi đến đâu?

Hoàng Thanh Phong: Thưa ông, việc Nhà nước có đẩy mạnh được cải cách trong khu vực các doanh nghiệp lớn vẫn còn là một thách thức và sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố như liệu các nhân vật có đầu óc cải cách có vào được trong ban lãnh đạo sắp tới của đảng hay không.

Hay khả năng các quan chức cao cấp của Nhà nước có tìm được cách thỏa hiệp để bảo vệ quyền lợi kinh tế riêng của họ trong quá trình cổ phần hóa. Có nghĩa là họ có từ bỏ bớt quyền kiểm soát chính trị để đổi lấy quyền sở hữu cổ phiếu hay không.

Việt Long: Nhưng sự tham gia nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài có làm cho các cán bộ quản lý của Nhà nước lo ngại là họ đang bị mất dần ảnh hưởng không?

Hoàng Thanh Phong: Thưa lo ngại thì cũng có, nhưng chính nhờ việc này mà tầng lớp cán bộ quản lý kinh doanh từ nay phải thực sự cố gắng rất nhiều để đáp ứng đòi hỏi của nhà đầu tư nước ngoài về mức tiền lãi và tăng trưởng.

Tôi cho rằng đây cũng là mục tiêu của các cấp lãnh đạo Việt Nam muốn đổi mới, vì muốn nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bằng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, để thu được thêm thuế, thay vì cứ phải trợ cấp kéo dài.

Phần nữa là khi các doanh nghiệp tự phát triển và sống còn, thì Nhà nước sẽ có điều kiện tập trung tài chính để đầu tư cho các chường trình phát triển khác, tỷ như xây dựng hạ tầng, đường xá, thuỷ lợi. Mặt khác thì dù sao Nhà nước cũng không mất đi quyền kiểm soát doanh nghiệp, hay quyền kiểm soát các khoản lợi tức doanh nghiệp, vì trong nhiều trường hợp thì Nhà nước vẫn giữ đa số 51% cổ phần.

Triển vọng đầu tư mới

Chính quyền Việt Nam quả là đang mong đợi có một làn sóng đầu tư mới bắt đầu từ 2006. Tuy nhiên liệu điều mong đợi đó có trở thành hiện thực hay không cũng còn phụ thuộc vào một số yếu tố, cả chủ quan lẫn khách quan.

Việt Long: Như vậy triển vọng đầu tư mới vào Việt Nam được ông đánh giá thế nào?

Hoàng Thanh Phong: Chính quyền Việt Nam quả là đang mong đợi có một làn sóng đầu tư mới bắt đầu từ 2006. Tuy nhiên liệu điều mong đợi đó có trở thành hiện thực hay không cũng còn phụ thuộc vào một số yếu tố, cả chủ quan lẫn khách quan.

Về chủ quan, thì cũng còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, tức là phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng, tính bền vững của quá trình tăng trưởng. Về khách quan, còn phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ, tức là thị trường xuất nhập khẩu cho hàng hoá của Việt Nam, mà nếu thí dụ, Việt Nam mà được gia nhập vào tổ chức WTO thì sẽ rất có lợi, hay phụ thuôc vào việc Việt Nam có xây dựng được các mối quan hệ kinh tế chiến lược với nước nào hay không, từ đó sẽ nhận được các hỗ trợ về tài chính hay thị trường.

Việt Long: Đến nay kết quả thu hút đầu tư có thể được sơ kết ra sao?

Hoàng Thanh Phong: Sau gần 20 năm, thì cho đến nay Việt Nam đã thu hút được hơn 5,600 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn cam kết là gần $47 tỷ đôla.

Tuy nhiên các dự án đó mới thực sự giải ngân khoảng $22 tỷ đôla, có nghĩa là còn rất nhiều dự án vẫn chưa thực hiện hết các mục tiêu ban đầu của họ. Cũng có nghĩa là nền kinh tế chưa có khả năng hấp thụ hết các nguồn đầu tư tiềm năng.

Đề tài kế tiếp sẽ được thảo luận với chuyên viên Hoàng Thanh Phong là những hành động điều tiết của Nhà nước trong lãnh vực đầu tư, một ví dụ là như trong khu vực kinh doanh bất động sản đang bị bế tắc.

Và giòng đầu tư mới từ nước ngoài mới có giúp được gì cho các mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam? Mong quý thính giả đón nghe, trườc khi sang loạt bài về luật đầu tư của Việt Nam đang được thảo luận sôi nổi ở Quốc hội.

Ý kiến (0)
Share
Xem toàn trang