Đồng thuận và nội lực (kỳ 1)

Từ tháng ba vừa qua, trên nhiều diễn đàn điện tử và vài tờ báo chính thức ở Việt Nam, vấn đề “đăng ký ranh giới thềm lục địa mở rộng” của Việt Nam, trước khi thời hạn cho phép đăng ký chấm dứt vào ngày 13 tháng 5 năm 2009, trở thành một đề tài nóng.

0:00 / 0:00

Đã có khá nhiều ý kiến thúc giục chính quyền Việt Nam nên thực hiện công việc cần thiết đó. Thậm chí, có diễn đàn như website Đối Thọai còn làm một đồng hồ đếm ngược thời gian, nhằm nhấn mạnh yếu tố quan trọng của việc “đăng ký ranh giới vùng đặc quyền kinh tế”...

Đến cuối tháng 4, chính quyền Việt Nam tuyên bố sẽ thực hiện công việc cần thiết này và ngày 7 tháng 5, Việt Nam chính thức gửi hồ sơ “đăng ký ranh giới thềm lục địa mở rộng”.

Hiện đang có khá nhiều diễn biến đáng chú ý quanh sự kiện này. Lọat bài “Đồng thuận và nội lực” được thực hiện nhằm tổng hợp các diễn biến, cũng như ý kiến liên quan đến sự kiện vừa được đề cập.

Công ước LHQ về Luật Biển

Biển đem lại nhiều nguồn lợi quan trọng nên việc xác lập chủ quyền trên biển luôn là vấn đề phát sinh rất nhiều tranh chấp, tranh cãi.

Các quan niệm về chủ quyền trên biển đã được đề cập từ thế kỷ 17 nhưng không có quan niệm nào được thừa nhận như nguyên tắc chung cho mọi quốc gia.

Đầu thập niên 1930, Hội Quốc Liên (tiền thân của tổ chức Liên Hiệp Quốc) bắt đầu tổ chức những hội nghị liên quan đến chủ quyền trên biển, song 52 năm sau (1982), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (gọi tắt là UNCLOS) mới được xem như hoàn chỉnh và mất thêm 12 năm nữa (1994), mới có hiệu lực thi hành.

UNCLOS hiện hành là một bộ quy tắc ấn định cách xác lập chủ quyền, thiết lập các giới hạn, ấn định các nguyên tắc liên quan đến giao thông trên biển, khai thác tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học và giải quyết tranh chấp…

Dựa trên UNCLOS, các quốc gia ven biển sẽ tự xác định “đường cơ sở” để qua đó xác lập: Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnh hải, Thềm lục địa.

UNCLOS định nghĩa, “đường cơ sở” là đường chạy dọc bờ biển khi thủy triều xuống. Nếu bờ biển không ổn định, thụt sâu vào đất liền hoặc có đảo ven bờ thì các quốc gia có biển có thể vạch các đường thẳng và lấy đó làm “đường cơ sở”.

Vùng biển ở bên trong “đường cơ sở” được gọi là “nội thủy”. Đây là khu vực mà tàu thuyền nước ngoài bất khả xâm phạm. Quốc gia ven biển toàn quyền sử dụng, kiểm sóat, khai thác “nội thủy” của mình.

Vùng biển ở phía ngoài “đường cơ sở” lần lượt là:

“Lãnh hải” (chiều ngang 12 hải lý, tính từ mép ngoài của đường cơ sở ra hướng đại dương). Quốc gia ven biển vẫn toàn quyền sử dụng, kiểm sóat, khai thác “lãnh hải” của mình nhưng tàu thuyền nước ngoài có quyền “qua lại” nếu “không gây hại”.

Kế đó là “vùng tiếp giáp lãnh hải” (chiều ngang 12 hải lý, tính từ mép ngoài của “lãnh hải” ra hướng đại dương). Quốc gia ven biển vẫn còn quyền sử dụng, kiểm sóat có giới hạn, khai thác “vùng tiếp giáp lãnh hải” của mình nhưng không được hạn chế quyền “tự do đi lại” của tàu thuyền nước ngoài.

Ngoài ra, UNCLOS còn xác định “vùng đặc quyền kinh tế” (chiều ngang 200 hải lý, tính từ mép ngoài của “đường cơ sở” ra hướng đại dương). Trong “vùng đặc quyền kinh tế”, quốc gia ven biển vẫn còn quyền sử dụng, quyền khai thác “vùng đặc quyền kinh tế” của mình nhưng không có quyền ngăn cấm tàu thuyền, máy bay của nước ngoài qua lại và phải cho nước ngoài đặt các đường ống, đường cáp ngầm dưới đáy biển.

Đồng thời UNCLOS còn có thêm định nghĩa về “thềm lục địa mở rộng”, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý. Tuy nhiên, tính từ “đường cơ sở” ra hướng đại dương, “thềm lục địa mở rộng” không được quá 350 hải lý hoặc không xa hơn khu vực có độ sâu 2.500m, 100 hải lý. Trong khu vực “thềm lục địa mở rộng”, quốc gia ven biển chỉ được độc quyền khai thác khoáng sản và các tài nguyên không phải sinh vật.

Nếu dùng công thức của UNCLOS cho Việt Nam thì thềm lục địa mở rộng của Việt Nam có thể rất rộng. Nó có thể ra rất xa. Thành ra Việt Nam có rất nhiều quyền lợi trong thềm lục địa mở rộng của mình.

Ô. Dương Danh Huy

Nguyên tắc quyền lợi

Cũng theo UNCLOS, nếu muốn thủ đắc các quyền liên quan đến “thềm lục địa mở rộng”, quốc gia ven biển phải đăng ký ranh giới trong vòng 10 năm, kể từ khi UNCLOS có hiệu lực với quốc gia đó. Hoặc là 10 năm sau ngày 13 tháng 5 năm 1999, thời điểm Ủy ban Ranh giới về Thềm lục địa, ban hành hướng dẫn về “ranh giới thềm lục địa”.

Việt Nam phê chuẩn UNCLOS năm 1994 nhưng 10 năm sau (2004) vẫn chưa đăng ký ranh giới “thềm lục địa mở rộng”. Nếu tiếp tục không đăng ký ranh giới “thềm lục địa mở rộng”, sau ngày 13 tháng 5 năm 2009, Việt Nam sẽ không còn quyền đòi hỏi về thềm lục địa mở rộng của mình nữa.

Do vậy, khoảng hai tháng trước khi thời hạn cho phép đăng ký ranh giới “thềm lục địa mở rộng” hết hạn, đã có nhiều nơi, nhiều người lên tiếng thúc giục chính quyền Việt Nam nên thực hiện công việc cần thiết này.

Ở thời điểm đó, trả lời Đài chúng tôi, ông Dương Danh Huy, thành viên Qũy Nghiên cứu Biển Đông, giải thích về tầm quan trọng cũng như hậu quả nếu Việt Nam không đăng ký ranh giới “thềm lục địa mở rộng” đúng hạn:

" Nếu dùng công thức của UNCLOS cho Việt Nam thì thềm lục địa mở rộng của Việt Nam có thể rất rộng. Nó có thể ra rất xa. Thành ra Việt Nam có rất nhiều quyền lợi trong thềm lục địa mở rộng của mình. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác dầu khí trong vùng thềm lục địa mở rộng của mình."

Đáp lại sự thúc giục đó, ngày 28 tháng 4, qua báo chí Việt Nam, ông Nguyễn Quang Vinh, Vụ trưởng Vụ Biển, Ban Biên giới thuộc Bộ Ngoại giao, chính thức loan báo: "Việt Nam đang gấp rút chuẩn bị để nộp đăng ký ranh giới ngoài của thềm lục địa đúng thời hạn".

Đăng ký thềm lục địa chung với Malaysia là một việc làm khôn khéo của chính phủ Việt Nam. Ít ra giữa Việt Nam và Malaysia đã có tiếng nói chung trong việc xác lập vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa

LS.Lê Minh Phiếu

Khoảng một tuần sau, một số hãng thông tấn quốc tế cho biết, ngày 7 tháng 5, Việt Nam và Malaysia đã chính thức gửi hồ sơ cho Liên Hiệp Quốc để cùng đăng ký khu vực thềm lục địa ngoài phạm vi 200 hải lý.

Khi được đề nghị nhận định về sự kiện này, luật sư Lê Minh Phiếu, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Pháp, cũng là thành viên Qũy Nghiên cứu Biển Đông, cho rằng:

"Đăng ký thềm lục địa chung với Malaysia là một việc làm khôn khéo của chính phủ Việt Nam. Ít ra giữa Việt Nam và Malaysia đã có tiếng nói chung trong việc xác lập vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa.

Tuy chưa thể giải quyết vấn đề đảo, nhất là Trường Sa nhưng hai nước đã có quan điểm chung về những nguyên tắc cũng như những vấn đề cụ thể trong việc xác định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trên biển Đông."

Tiếc rằng, giống như nhiều lần trước đó, mỗi khi Việt Nam mạnh mẽ minh định chủ quyền của mình trên biển Đông, Trung Quốc – lân bang đã từng nhiều lần tuyên bố sẽ cùng Việt Nam thực hiện "16 chữ vàng" (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai), trên tinh thần "bốn tốt" (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) lại tiếp tục gây rắc rối.