Trân Văn trình bày thêm về các diễn biến sau khi Việt Nam đăng ký “ranh giới thềm lục địa mở rộng” và những nhận xét về phản ứng của Trung Quốc...
Phản ứng của Trung Quốc
Ngay trong ngày 7 tháng 5, thời điểm Việt Nam và Malaysia chính thức gửi hồ sơ cho Liên Hiệp Quốc để cùng đăng ký khu vực thềm lục địa ngoài phạm vi 200 hải lý, Tân Hoa Xã loan báo, Trung Quốc đã yêu cầu Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc không xét hồ sơ chung của Việt Nam và Malaysia theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (gọi tắt là UNCLOS) vì điều này “vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông”.
Trước phản ứng đó của Trung Quốc, ông Lê Hưng Quốc, một người từng được đào tạo về công pháp quốc tế tại Liên Xô, cựu phó giám đốc Sở Ngọai vụ TP.HCM, hiện đang là Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP.HCM, nhận xét:
"Tôi cho rằng phản ứng như vậy là không đúng ở chỗ, mọi nước ven biển đều có quyền đệ đạt Liên Hiệp Quốc xem xét vùng đặc quyền kinh tế theo đúng quy định của Công ước 1982 về Luật Biển.
Vì vậy, Trung Quốc có quyền đề nghị, Việt Nam có quyền đề nghị, Malaysia có quyền đề nghị, Philippines cũng đã đề nghị và tất cả các nước ven biển đều có quyền đề nghị hết. Còn việc Liên Hiệp Quốc xem xét như thế nào thì lại trên cơ sở đồng thuận của các nước quanh khu vực tranh chấp. Đấy lại là vấn đề khác."
Tôi cho rằng phản ứng như vậy là không đúng ở chỗ, mọi nước ven biển đều có quyền đệ đạt Liên Hiệp Quốc xem xét vùng đặc quyền kinh tế theo đúng quy định của Công ước 1982 về Luật Biển.
Ô. Lê Hưng Quốc
Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS từ năm 1995 nên về nguyên tắc, Trung Quốc cũng có quyền đăng ký ranh giới “thềm lục địa mở rộng”, trước ngày hết hạn đăng ký là 13 tháng 5 năm 2009 như ông Lê Hưng Quốc đề cập. Tuy nhiên Trung Quốc đã không làm điều này. Vì sao?
Ông Phạm Hoàng Quân - một người chuyên nghiên cứu về những “chứng cứ” có tính chất lịch sử mà Trung Quốc sử dụng để tuyên bố “chủ quyền” trên biển Đông - khẳng định:
"Căn cứ vào cổ sử của Trung Quốc, những tài liệu thuộc chính sử như là các bộ sử do triều đình biên sọan, những bộ địa phương chí của tỉnh Quảng Đông, phủ Quỳnh Châu,… tôi thấy họ không ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa trong cương đế hành chính. Mặt khác, trên các địa đồ hành chính.
Từ lúc có địa đồ tổng quan của toàn Trung Quốc, đến lúc có địa đồ của các huyện giáp giới như Quảng Đông hoặc Hải Nam, không ai thấy họ vẽ các quần đảo vào địa hạt hành chính của họ.
Ô.Phạm Hoàng Quân
Từ lúc có địa đồ tổng quan của toàn Trung Quốc, đến lúc có địa đồ của các huyện giáp giới như Quảng Đông hoặc Hải Nam, không ai thấy họ vẽ các quần đảo vào địa hạt hành chính của họ.
Điểm thứ ba là các tài liệu như người Trung Quốc dùng để nói rằng họ đã phát hiện thì đó là nhật ký du hành của những nhà hang hải Trung Quốc, những nhà buôn hoặc những nhà ngọai giao.
Đó là những điều mà họ thấy, họ ghi lại chứ không phải nhằm đặt quyền phát hiện và khai thác. Nó không đủ điều kiện để gọi là bản hạt của nhà nước. Thí dụ anh đi biển, anh nhìn thấy nơi nào đó rồi anh ghi lai trong du ký thì người nào cũng ghi nhận được.
Họ chỉ đem những dữ liệu từ những du ký đó để nói rằng, người Trung Quốc phát hiện sớm. Lý luận của người Trung Quốc hiện giờ là như vậy.
Quan điểm của Việt Nam
Cùng bàn về vấn đề kể trên, Tiến sĩ Nguyễn Nhã - người đeo đuổi công việc nghiên cứu chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông trong hơn ba mươi năm qua – nhận định:
"Tôi được biết Ban Biên giới và Bộ Ngọai Giao đã chuẩn bị rất kỹ về việc này. Giống như báo chí đã đưa, trước khi công bố chính thức, Việt Nam đã tham khảo các nước liên quan. Theo tôi đó là một việc làm rất khôn ngoan về ngọai giao.
Theo tôi được biết chắc là Trung Quốc không đăng ký gì vì không có cơ sở nào để đăng ký. Như vậy thì Việt Nam cũng như các nước ASEAN phải dựa vào nhau thôi. Đó là một trong những hướng mà Việt Nam có thể bảo vệ hiệu quả chủ quyền của mình ở Trường Sa.
Tiến sĩ Nguyễn Nhã
Theo tôi được biết chắc là Trung Quốc không đăng ký gì vì không có cơ sở nào để đăng ký. Như vậy thì Việt Nam cũng như các nước ASEAN phải dựa vào nhau thôi. Đó là một trong những hướng mà Việt Nam có thể bảo vệ hiệu quả chủ quyền của mình ở Trường Sa."
Trong thực tế, biển Đông đã và vẫn là khu vực rất “nóng” vì những tranh chấp do có sự chồng lấn về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia với nhau (Việt Nam, Malaysia, Bruinei, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Cambodia, Trung Quốc, Đài Loan).
Đến nay, Việt Nam đã ký năm hiệp định và thỏa thuận với các quốc gia để giải quyết một phần những tranh chấp liên quan đến biển: Cambodia (1982), Malaysia (1992), Thái Lan (1997), Trung Quốc (2000), Indonesia (2003).
Hồi cuối tháng 4, khi loan báo việc Việt Nam sẽ đăng ký ranh giới thềm lục địa mở rộng trước khi hết hạn đăng ký, ông Nguyễn Quang Vinh, Vụ trưởng Vụ Biển, Ban Biên giới, Bộ Ngoại giao, tiết lộ: Việt Nam đã chủ động liên hệ cùng các nước láng giềng có chung đường biên giới trên biển để trao đổi về việc đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục địa.
Đến nay, Việt Nam đã cùng thỏa thuận với Malaysia viết báo cáo chung lên Liên hiệp quốc. Việt Nam đã mời Brunei cùng tham gia quá trình này và mới đây, Brunei muốn cùng tham gia. Philippines cho biết sẽ không nêu khu vực chồng lấn với Việt Nam trong báo cáo của mình, xem đây là khu vực bảo lưu, sẽ có báo cáo sau. Lãnh đạo Philippines cam kết sẽ không phản đối báo cáo của Việt Nam.
Tôi được biết Ban Biên giới và Bộ Ngọai Giao đã chuẩn bị rất kỹ về việc này. Giống như báo chí đã đưa, trước khi công bố chính thức, Việt Nam đã tham khảo các nước liên quan. Theo tôi đó là một việc làm rất khôn ngoan về ngọai giao.
Tiến sĩ Nguyễn Nhã
Riêng với Trung Quốc, nước này phản đối tất cả các nước trong khu vực về báo cáo biên giới ngoài thềm lục địa, không chỉ riêng Việt Nam.
Đúng như dự đoán, Trung Quốc đã phản đối gần như lập tức. Ngày hôm sau, ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, tuyên bố: "Nội dung công hàm của phía Trung Quốc và bản đồ kèm theo công hàm đó đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông. Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc thể hiện trên bản đồ đi kèm với công hàm là không có giá trị vì không có sơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn ".
Tuyên bố vừa kể sau khi Trung Quốc ngăn cản Việt Nam và Malaysia đăng ký ranh giới "thềm lục địa mở rộng", được xem là phản ứng mạnh mẽ hiếm có. Trước đây, mỗi lần Trung Quốc có những hành động xâm hại chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, người phát ngôn của Bộ Ngọai giao Việt Nam thường chỉ lập đi, lập lại rằng: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình... rồi… ngừng ở đó!
Phản ứng của Trung Quốc dẫn tới những hệ quả nào và Việt Nam cần làm gì? Đó sẽ là nội dung bài thứ ba. Mời quý vị tiếp tục đón xem.
